buppou

Tương Ưng Bộ · SN 18.12

Kinh Các Sắc Thứ Hai

Rūpasutta — bài thứ mười hai

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười hai mở phẩm thứ hai, và phẩm này là một bản rút gọn của phẩm đầu.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, các sắc là thường hay vô thường?

Mười bài của phẩm thứ hai đi lại đúng mười chủ đề của phẩm thứ nhất: sắc, thức, xúc, thọ, tưởng, tư, ái, giới, uẩn. Chỉ có cách trình bày là ngắn hơn.

Sự rút gọn ấy không phải lười biếng. Nó là một cách dạy: lần đầu thì nói đủ, lần sau thì nói tắt, và người nghe phải tự điền vào chỗ trống. Nếu điền được, thế là đã hiểu.

Và đó cũng là cách để một tương ưng hai mươi hai bài vẫn đọc được. Nếu cả hai mươi hai bài đều dài như bài thứ nhất, thì không ai đọc hết; còn nếu cả hai mươi hai bài đều ngắn như bài này, thì không ai hiểu.

Bài thứ mười hai là bài đầu của nửa sau. Nó bắt đầu lại từ đầu — từ sắc — như thể lần này người đọc đã quen, và có thể đi nhanh hơn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.

Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rāhula.

Kinh Các Sắc Thứ Hai (Rūpasutta) — bài thứ mười hai.


"Tại Sāvatthī.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,

các sắc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các thanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các hương là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các vị là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các pháp là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các thanh, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các pháp;

do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."

Bài thứ mười hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →