Tương Ưng Bộ · SN 18.11
Kinh Con Mắt Thứ Hai
Cakkhusutta — bài thứ mười một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười một mang cùng tên với bài thứ nhất, và đó không phải một sự trùng lặp.
Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?
Bài thứ nhất có một lời thỉnh cầu ở đầu: xin dạy con pháp vắn tắt. Bài này không có lời ấy. Đức Thế Tôn tự mở lời, và Rāhula chỉ trả lời.
Sự khác biệt ấy đổi vai trò của người nghe. Ở bài đầu, Rāhula xin; ở bài này, Rāhula bị hỏi. Cùng một nội dung, hai tư thế khác nhau.
Và bài này giữ đầy đủ ba câu hỏi cho cả sáu giác quan, không tóm lược. Vì thế nó dài hơn bài thứ nhất, dù nó nói đúng điều bài thứ nhất đã nói.
Có một chi tiết nhỏ ở cuối: chú thích của bản Pali ghi rằng theo cách lặp này, có mười bài kinh. Đó là lời của người biên tập, không phải của Đức Thế Tôn — và nó cho thấy tương ưng này được lập nên có chủ định, không phải gom lại.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.
Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rāhula.
Kinh Con Mắt Thứ Hai (Cakkhusutta) — bài thứ mười một.
"Tôi nghe như vầy.
Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
Rồi tôn giả Rāhula đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tôn giả Rāhula được Đức Thế Tôn nói với:
Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,
con mắt là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?
Khổ, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy:
Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta?
Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
tai là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
mũi là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
lưỡi là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thân là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
ý là thường hay vô thường?
Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?
Khổ, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy:
Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta?
Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý;
do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa.
[Chú thích: Theo cách lặp này, có mười bài kinh.]"
Bài thứ mười một.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.