Tương Ưng Bộ · SN 47.62
Kinh Các Sông Lớn (II)
Sabbamahānadīsutta — bài thứ sáu mươi hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Các Sông Lớn (II) (Sabbamahānadīsutta) là bài cuối của phẩm thứ sáu — và là bài khép lại mười hai bài cùng khuôn.
Câu kết của bài này giống hệt mười một bài trước. Chỉ có phần sau là khác: lời đóng phẩm và bài kệ tóm tắt.
Bài kệ ấy có một chữ đáng chú ý — pavuccati, "được tụng là". Nghĩa là: phẩm này không phải được viết, mà được tụng. Mười hai bài, hai lần sáu, và một câu kệ để người tụng nhớ mình đang ở đâu.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.
Phẩm Sông Hằng (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Niệm Xứ, gồm mười hai bài ngắn cùng một khuôn.
Kinh Các Sông Lớn (II) (Sabbamahānadīsutta) — bài thứ sáu mươi hai.
"Ví như, này các tỳ-kheo, tất cả các sông lớn đều nghiêng về biển, dốc về biển, chảy về biển.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, thì nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, nên nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, nên nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn."
Kinh Các Sông Lớn (II), bài thứ sáu mươi hai, đến đây là hết.
Phẩm Sông Hằng, phẩm thứ sáu, đến đây là hết.
Kệ tóm tắt phẩm (uddāna) — bốn câu ghi mười hai bài.
Sáu bài nghiêng về phía đông,
sáu bài nghiêng về biển;
hai lần sáu là mười hai,
và phẩm được tụng là như vậy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.