Tương Ưng Bộ · SN 35.46
Kinh Cần Được Biết Rõ
Aniccādisuttanavaka — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tư đổi hẳn loại chữ. Ba bài đầu nói bản chất của cái tất cả; bài này nói việc cần làm với nó.
tất cả, này các tỳ-kheo, là cần được biết rõ.
Abhiññeyya là cái phải được biết bằng thắng trí — không phải biết suông, mà biết xuyên qua.
Đây là chỗ phẩm này chuyển hướng. Từ "thế giới là gì" sang "thế giới ấy phải được làm gì". Và câu trả lời đầu tiên là: biết đã.
Không phải bỏ, không phải chạy, không phải thay thế. Biết.
Nghe thì nhẹ, nhưng kinh không nhẹ chỗ này. Danh sách cần biết rõ dài đúng bằng danh sách vô thường — hai mươi lăm món, không bớt món nào. Kể cả cảm thọ do ý xúc sinh khởi.
Tức là không có chỗ nào được miễn. Cái gì có mặt trong kinh nghiệm thì cái ấy nằm trong phạm vi phải biết.
Và biết rồi thì sao? Kinh chưa nói ở bài này. Nó để dành cho bốn bài sau.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Tất Cả Vô Thường (Sabbaaniccavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Cần Được Biết Rõ (Aniccādisuttanavaka) — bài thứ bốn.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đấy, Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
"Tất cả, này các tỳ-kheo, cần được biết rõ.
Cái gì, này các tỳ-kheo, là tất cả cần được biết rõ?
Mắt cần được biết rõ; các sắc cần được biết rõ; nhãn thức cần được biết rõ; nhãn xúc cần được biết rõ.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết rõ. Tai cần được biết rõ; các tiếng cần được biết rõ; nhĩ thức cần được biết rõ; nhĩ xúc cần được biết rõ. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết rõ. Mũi cần được biết rõ; các mùi cần được biết rõ; tỷ thức cần được biết rõ; tỷ xúc cần được biết rõ. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết rõ.
Lưỡi cần được biết rõ; các vị cần được biết rõ; thiệt thức cần được biết rõ; thiệt xúc cần được biết rõ.
cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết rõ.
Thân cần được biết rõ; các vật chạm cần được biết rõ; thân thức cần được biết rõ; thân xúc cần được biết rõ. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết rõ.
Ý cần được biết rõ; các pháp cần được biết rõ; ý thức cần được biết rõ; ý xúc cần được biết rõ.
cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết rõ.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc. Cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với thân thức, nhàm chán đối với thân xúc. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Vị ấy nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc.
Cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.'
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.'"
Bài thứ bốn.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.