Tương Ưng Bộ · SN 35.45
Kinh Vô Ngã
Aniccādisuttanavaka — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ ba: anattā — vô ngã.
tất cả, này các tỳ-kheo, là vô ngã.
Ba bài đầu phẩm là ba cái nhìn quen thuộc nhất của Phật giáo, và chúng đi theo đúng thứ tự mà kinh hay dùng: vô thường → khổ → vô ngã.
Nhưng đọc liền ba bài mới thấy chỗ này không phải ba giáo lý rời. Nó là một lập luận có ba nhịp.
Nhịp một: cái gì cũng đổi. Nhịp hai: cái đổi mà bám thì đau. Nhịp ba: cái đau ấy không phải của ai — vì cái "ai" ấy cũng đang đổi.
Chữ anattā không có nghĩa "không có gì". Nó có nghĩa không phải tự ngã — không phải cái mình có thể chỉ vào và nói "cái này là tôi, là của tôi, là chính tôi".
Và kinh áp nó xuống tận đáy, đúng như hai bài trước: không chỉ mắt là vô ngã, mà nhãn thức và cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi cũng vô ngã.
Cái đang biết cũng không phải tôi. Đó là chỗ bài này khó nghe nhất — và cũng là chỗ nó nói đúng nhất.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Tất Cả Vô Thường (Sabbaaniccavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Ngã (Aniccādisuttanavaka) — bài thứ ba.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đấy, Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
"Tất cả, này các tỳ-kheo, là vô ngã.
Cái gì, này các tỳ-kheo, là tất cả là vô ngã?
Mắt là vô ngã; các sắc là vô ngã; nhãn thức là vô ngã; nhãn xúc là vô ngã.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng là vô ngã. Tai là vô ngã; các tiếng là vô ngã; nhĩ thức là vô ngã; nhĩ xúc là vô ngã. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng là vô ngã. Mũi là vô ngã; các mùi là vô ngã; tỷ thức là vô ngã; tỷ xúc là vô ngã. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng là vô ngã.
Lưỡi là vô ngã; các vị là vô ngã; thiệt thức là vô ngã; thiệt xúc là vô ngã.
cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng là vô ngã.
Thân là vô ngã; các vật chạm là vô ngã; thân thức là vô ngã; thân xúc là vô ngã. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng là vô ngã.
Ý là vô ngã; các pháp là vô ngã; ý thức là vô ngã; ý xúc là vô ngã.
cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng là vô ngã.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc. Cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với thân thức, nhàm chán đối với thân xúc. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Vị ấy nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc.
Cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.'
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.'"
Bài thứ ba.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.