Tương Ưng Bộ · SN 35.47
Kinh Cần Được Biết Trọn
Aniccādisuttanavaka — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm: pariññeyya — cần được biết trọn.
Abhiññā là biết xuyên qua. Pariññā là biết hết, biết đến chỗ không còn gì để biết thêm.
Hai chữ gần nhau, nhưng khác một điều: cái thứ nhất là độ sâu, cái thứ hai là độ trọn.
Kinh đặt chúng cạnh nhau có chủ ý. Biết xuyên mà không biết trọn thì vẫn còn góc khuất. Biết trọn mà không biết xuyên thì biết nhiều mà không thấy gì.
Và cái cần biết trọn, một lần nữa, vẫn là hai mươi lăm món ấy — từ mắt cho đến cảm thọ do ý xúc sinh khởi.
Có một cách đọc chữ pariññā rất đời thường: biết trọn là biết giá của nó. Không phải biết nó là gì, mà biết nó đứng ở đâu trong cái đang chống đỡ đời mình.
Biết trọn một cảm thọ là biết nó đến từ đâu, nuôi bằng gì, và sẽ đi về đâu. Biết đến thế thì nó không còn là một khối.
Và cái gì không còn là khối thì không còn phải giữ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Tất Cả Vô Thường (Sabbaaniccavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Cần Được Biết Trọn (Aniccādisuttanavaka) — bài thứ năm.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đấy, Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
"Tất cả, này các tỳ-kheo, cần được biết trọn.
Cái gì, này các tỳ-kheo, là tất cả cần được biết trọn?
Mắt cần được biết trọn; các sắc cần được biết trọn; nhãn thức cần được biết trọn; nhãn xúc cần được biết trọn.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết trọn. Tai cần được biết trọn; các tiếng cần được biết trọn; nhĩ thức cần được biết trọn; nhĩ xúc cần được biết trọn. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết trọn. Mũi cần được biết trọn; các mùi cần được biết trọn; tỷ thức cần được biết trọn; tỷ xúc cần được biết trọn. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết trọn.
Lưỡi cần được biết trọn; các vị cần được biết trọn; thiệt thức cần được biết trọn; thiệt xúc cần được biết trọn.
cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết trọn.
Thân cần được biết trọn; các vật chạm cần được biết trọn; thân thức cần được biết trọn; thân xúc cần được biết trọn. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết trọn.
Ý cần được biết trọn; các pháp cần được biết trọn; ý thức cần được biết trọn; ý xúc cần được biết trọn.
cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được biết trọn.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc. Cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với thân thức, nhàm chán đối với thân xúc. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Vị ấy nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc.
Cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.'
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.'"
Bài thứ năm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.