Tương Ưng Bộ · SN 35.49
Kinh Cần Được Chứng Ngộ
Aniccādisuttanavaka — bài thứ bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ bảy: sacchikātabba — cần được chứng ngộ.
Sacchikaroti là làm cho nó thành trước mắt mình — sacchi nghĩa đen là "bằng chính mắt". Không phải tin, không phải suy ra, mà thấy ngay tại đây.
Đây là chữ mạnh nhất trong nhóm bốn bài về việc cần làm. Biết rõ, biết trọn, đoạn trừ — cả ba vẫn còn ở phía người làm. Chứng ngộ thì ở phía cái được làm.
Và kinh vẫn không đổi danh sách. Hai mươi lăm món ấy, mỗi món đều là cái phải chứng. Kể cả cảm thọ do ý xúc sinh khởi.
Điều này quan trọng. Nó nói rằng cái cần chứng không phải một trạng thái đặc biệt ở đâu xa. Nó là đúng cái đang xảy ra — được thấy lần đầu mà không qua trung gian.
Người tu hay tưởng "chứng" là đạt được một cái gì mới. Kinh nói ngược: chứng là thấy cái đã đang có, đến mức nó không còn là chuyện phải tin.
Và một khi đã thấy, thì chuyện bỏ hay không bỏ không còn là quyết định nữa.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Tất Cả Vô Thường (Sabbaaniccavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Cần Được Chứng Ngộ (Aniccādisuttanavaka) — bài thứ bảy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đấy, Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
"Tất cả, này các tỳ-kheo, cần được chứng ngộ.
Cái gì, này các tỳ-kheo, là tất cả cần được chứng ngộ?
Mắt cần được chứng ngộ; các sắc cần được chứng ngộ; nhãn thức cần được chứng ngộ; nhãn xúc cần được chứng ngộ.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được chứng ngộ. Tai cần được chứng ngộ; các tiếng cần được chứng ngộ; nhĩ thức cần được chứng ngộ; nhĩ xúc cần được chứng ngộ. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được chứng ngộ. Mũi cần được chứng ngộ; các mùi cần được chứng ngộ; tỷ thức cần được chứng ngộ; tỷ xúc cần được chứng ngộ. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được chứng ngộ.
Lưỡi cần được chứng ngộ; các vị cần được chứng ngộ; thiệt thức cần được chứng ngộ; thiệt xúc cần được chứng ngộ.
cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được chứng ngộ.
Thân cần được chứng ngộ; các vật chạm cần được chứng ngộ; thân thức cần được chứng ngộ; thân xúc cần được chứng ngộ. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được chứng ngộ.
Ý cần được chứng ngộ; các pháp cần được chứng ngộ; ý thức cần được chứng ngộ; ý xúc cần được chứng ngộ.
cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng cần được chứng ngộ.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc.
Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc. Cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc. Cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc. Cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với thân thức, nhàm chán đối với thân xúc. Cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Vị ấy nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc.
Cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy vị ấy cũng nhàm chán.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.'
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.'"
Bài thứ bảy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.