buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.66

Kinh Câu Hỏi Về Chúng Sinh

Samiddhisattapañhāsutta — bài thứ bốn

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ tư giữ nguyên phần trả lời của bài 65, chỉ đổi chữ được hỏi: chúng sinh.

Bạch Thế Tôn, người ta nói 'chúng sinh, chúng sinh'. Đến mức nào thì có chúng sinh, hay có khái niệm về chúng sinh?

Trong bản Pali, bài này chỉ còn hai dòng rồi peyyāla. Phần trả lời không được chép lại — vì nó y nguyên bài trước, chỉ thay một chữ. Ở đây chép đủ.

Và như vậy, một điều hiện ra rất rõ khi đọc liền ba bài:

ma — chúng sinh — khổ — thế giới

Bốn chữ, bốn bài, cùng một câu trả lời. Tất cả đều được định nghĩa bằng đúng một điều kiện: sáu xứ có mặt.

Đây là một trong những chỗ mạnh nhất của Tương Ưng Sáu Xứ. Nó không nói "chúng sinh là không có". Nó nói chúng sinh là một cách gọi, và cách gọi ấy có điều kiện của nó — điều kiện ấy là chỗ sáu xứ đang vận hành.

Bỏ điều kiện ấy đi thì cái tên ấy không còn chỗ đứng. Không phải ai bị xóa, mà cái tên không còn gì để gọi.

Đó là lý do bốn bài này đứng liền nhau. Chúng không phải bốn giáo lý; chúng là một cấu trúc được thử với bốn cái tên — để thấy cái cấu trúc ấy không phụ thuộc vào tên.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Migajāla (Migajālavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Câu Hỏi Về Chúng Sinh (Samiddhisattapañhāsutta) — bài thứ bốn.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng trúc Veḷuvana, tại chỗ nuôi sóc.

Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Đức Thế Tôn rằng:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'chúng sinh, chúng sinh'.

Bạch Thế Tôn, đến mức nào thì có chúng sinh, hay có khái niệm về chúng sinh?

Này Samiddhi, ở đâu có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có những pháp do nhãn thức nhận biết — thì ở đó có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu có tai, có các tiếng, có nhĩ thức, có những pháp do nhĩ thức nhận biết — thì ở đó có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu có mũi, có các mùi, có tỷ thức, có những pháp do tỷ thức nhận biết — thì ở đó có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu có lưỡi, có các vị, có thiệt thức, có những pháp do thiệt thức nhận biết — thì ở đó có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu có thân, có các vật chạm, có thân thức, có những pháp do thân thức nhận biết — thì ở đó có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu có ý, có các pháp, có ý thức, có những pháp do ý thức nhận biết — thì ở đó có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có những pháp do nhãn thức nhận biết — thì ở đó không có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu không có tai, không có các tiếng, không có nhĩ thức, không có những pháp do nhĩ thức nhận biết — thì ở đó không có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu không có mũi, không có các mùi, không có tỷ thức, không có những pháp do tỷ thức nhận biết — thì ở đó không có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu không có lưỡi, không có các vị, không có thiệt thức, không có những pháp do thiệt thức nhận biết — thì ở đó không có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu không có thân, không có các vật chạm, không có thân thức, không có những pháp do thân thức nhận biết — thì ở đó không có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh.

Này Samiddhi, ở đâu không có ý, không có các pháp, không có ý thức, không có những pháp do ý thức nhận biết — thì ở đó không có chúng sinh hay khái niệm về chúng sinh."

Bài thứ bốn.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →