Tương Ưng Bộ · SN 39.10
Kinh Câu Hỏi Về Khát Ái
Taṇhāpañhāsutta — bài thứ mười không
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười là bài đối xứng của bài bảy — cùng ba mục, khác đối tượng — và nó chứa một trong những ý tinh tế nhất của cả hai tương ưng.
Này hiền giả, có ba khát ái này: dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Kāmataṇhā — khát dục. Bhavataṇhā — khát hữu. Vibhavataṇhā — khát phi hữu.
Cái thứ ba — khát được không tồn tại — là cái đáng nói nhất, vì nó trông như sự giải thoát và nó không phải.
Một người mệt mỏi với chính mình, mong mình biến mất — đó là vibhavataṇhā. Và nó cùng một cơ chế với mong mình có thêm — chỉ đổi dấu.
Cả hai đều là một cái khát, và cả hai đều là một chỗ bám.
Đó là một trong những điểm mà Phật giáo khó nghe nhất, và nó là lý do nhiều người hiểu sai: sự giải thoát không phải sự biến mất. Nó là sự chấm dứt của cái khát — kể cả cái khát được biến mất.
Và câu trả lời vẫn là con đường tám nhánh. Không phải một con đường thoát khỏi chính mình, mà là một con đường hiểu mình đủ rõ để không còn phải chạy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasaṃyutta), tương ưng thứ 39.
Phẩm Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāmaṇḍaka.
Kinh Câu Hỏi Về Khát Ái (Taṇhāpañhāsutta) — bài thứ mười không.
"Khát ái, khát ái, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Khát ái ấy là gì, này hiền giả?
Này hiền giả, có ba khát ái này.
Dục ái, hữu ái, phi hữu ái —
này hiền giả, ấy là ba khát ái.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các khát ái ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các khát ái ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để đoạn trừ các khát ái ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để đoạn trừ các khát ái ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để đoạn trừ các khát ái ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để đoạn trừ các khát ái ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ mười.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.