Tương Ưng Bộ · SN 39.9
Kinh Câu Hỏi Về Vô Minh
Avijjāpañhāsutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ chín là bài sâu nhất của tương ưng — và định nghĩa của nó đáng để so với bản bên SN 38.
Này hiền giả, chính sự không biết về khổ, sự không biết về sự sinh khởi của khổ, sự không biết về sự chấm dứt của khổ, sự không biết về con đường đưa tới sự chấm dứt của khổ — ấy được gọi là vô minh.
Hai bản giống hệt nhau, từng chữ.
Và đó là một điều đáng để dừng lại về mặt văn bản: hai tương ưng khác nhau, hai người hỏi khác nhau, một câu trả lời giống hệt đến từng chữ.
Điều ấy có nghĩa là gì?
Không phải là hai lần Đức Phật nói cùng một câu. Sāriputta là người nói, trong cả hai trường hợp, và ngài nói ở hai chỗ khác nhau, với hai người khác nhau.
Điều ấy có nghĩa là: câu trả lời ấy là một đơn vị văn bản cố định. Nó được truyền như một khối, không biến đổi, và được gắn vào bất cứ chỗ nào cần.
Đó là cách một nền văn hóa truyền khẩu giữ được tính chính xác: không sáng tác lại, mà lắp ghép những khối đã có.
Và với người đọc hôm nay, điều ấy có một hệ quả thực tế: khi hai bản giống nhau, ta không cần đọc lại — nhưng ta nên biết rằng ta đang bỏ qua một chỗ mà người xưa không bỏ qua.
Họ tụng cả hai lần, ở hai chỗ, vì mỗi chỗ có một người nghe khác.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasaṃyutta), tương ưng thứ 39.
Phẩm Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāmaṇḍaka.
Kinh Câu Hỏi Về Vô Minh (Avijjāpañhāsutta) — bài thứ chín.
"Vô minh, vô minh, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Vô minh ấy là gì, này hiền giả?
Này hiền giả, chính sự không biết về khổ, sự không biết về sự sinh khởi của khổ, sự không biết về sự chấm dứt của khổ, sự không biết về con đường đưa tới sự chấm dứt của khổ —
này hiền giả, ấy được gọi là vô minh.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ vô minh ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ vô minh ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để đoạn trừ vô minh ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để đoạn trừ vô minh ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để đoạn trừ vô minh ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để đoạn trừ vô minh ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.