Tương Ưng Bộ · SN 38.8
Kinh Câu Hỏi Về Lậu Hoặc
Āsavapañhāsutta — bài thứ tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tám là bài đầu tiên nói về cái cần bỏ — và nó đưa vào một danh sách chỉ có ba mục.
"Lậu hoặc, lậu hoặc", này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy. Lậu hoặc ấy là gì? Này hiền giả, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Āsava — lậu hoặc. Chữ gốc là ā + sru — chảy vào, rỉ ra. Hình ảnh là một cái thùng bị rò, nước chảy vào mà không giữ được.
Và ba cái ấy là ba hướng chảy:
Kāmāsava — chảy về phía dục. Bhavāsava — chảy về phía hữu, phía tồn tại. Avijjāsava — chảy về phía không biết.
Ba hướng, cùng một cơ chế: cái tâm rò ra ngoài và không giữ được.
Đó là một hình ảnh rất khác với "ô nhiễm" hay "phiền não". Lậu hoặc không phải cái dính vào. Nó là cái chảy ra, cái mất đi, cái không đọng lại.
Và câu hỏi về con đường ở đây là đoạn trừ, không phải liễu tri — vì một cái thùng rò thì phải vá, không phải chỉ nhìn.
Từ bài này, tương ưng bước vào nhóm bốn bài về những thứ cần bỏ: lậu hoặc, vô minh, khát ái, bộc lưu. Bốn cái, bốn danh sách, cùng một câu trả lời.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.
Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.
Kinh Câu Hỏi Về Lậu Hoặc (Āsavapañhāsutta) — bài thứ tám.
"Lậu hoặc, lậu hoặc, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Lậu hoặc ấy là gì, này hiền giả?
Này hiền giả, có ba lậu hoặc này.
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu —
này hiền giả, ấy là ba lậu hoặc.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các lậu hoặc ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các lậu hoặc ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để đoạn trừ các lậu hoặc ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để đoạn trừ các lậu hoặc ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để đoạn trừ các lậu hoặc ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để đoạn trừ các lậu hoặc ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.