Tương Ưng Bộ · SN 38.9
Kinh Câu Hỏi Về Vô Minh
Avijjāpañhāsutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ chín là bài sâu nhất của tương ưng — và định nghĩa của nó là một trong những định nghĩa gọn nhất của vô minh trong toàn bộ Kinh tạng.
Này hiền giả, chính sự không biết về khổ, sự không biết về sự sinh khởi của khổ, sự không biết về sự chấm dứt của khổ, sự không biết về con đường đưa tới sự chấm dứt của khổ — ấy được gọi là vô minh.
Bốn cái không biết. Bốn sự thật.
Đó là một định nghĩa rất hẹp, và nó khác hẳn cách người ta thường hiểu "vô minh" là "không biết gì cả".
Theo định nghĩa này, một người có thể biết rất nhiều — kinh điển, triết học, kỹ thuật — và vẫn là vô minh, nếu người ấy không biết bốn điều ấy.
Vô minh không phải một sự thiếu hụt thông tin. Nó là một sự thiếu hụt cụ thể, ở bốn chỗ.
Và cái thứ tư — không biết con đường — đáng để ý nhất. Vì ba cái đầu là về cái đang xảy ra. Cái thứ tư là về cái có thể làm.
Không biết khổ là không thấy cái đang có. Không biết nhân của khổ là không thấy cái đang nuôi nó. Không biết sự chấm dứt là không tin nó chấm dứt được. Không biết con đường là không biết bắt đầu từ đâu.
Bốn cái, và cái cuối là cái nặng nhất — vì thiếu nó thì ba cái kia chỉ là một nỗi buồn.
Và câu trả lời vẫn là con đường tám nhánh. Luôn luôn.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.
Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.
Kinh Câu Hỏi Về Vô Minh (Avijjāpañhāsutta) — bài thứ chín.
"Vô minh, vô minh, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Vô minh ấy là gì, này hiền giả?
Này hiền giả, chính sự không biết về khổ, sự không biết về sự sinh khởi của khổ, sự không biết về sự chấm dứt của khổ, sự không biết về con đường đưa tới sự chấm dứt của khổ —
này hiền giả, ấy được gọi là vô minh.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ vô minh ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ vô minh ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để đoạn trừ vô minh ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để đoạn trừ vô minh ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để đoạn trừ vô minh ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để đoạn trừ vô minh ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.