Tương Ưng Bộ · SN 45.167
Kinh Cấu Uế
Malasutta — bài thứ một trăm sáu mươi bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Cấu Uế (Malasutta) đổi ẩn dụ từ "chai" sang vết bẩn: mala là bụi, là vết nhơ.
Tham là cấu uế. Sân là cấu uế. Si là cấu uế.
Khác với khila (chai cứng) ở bài trước, mala hàm ý một cái gì bám vào và có thể rửa sạch. Cùng ba pháp ấy, hai cách nhìn: một cái nói về chỗ đã mất cảm giác, một cái nói về thứ còn có thể gột.
Kinh giữ cả hai. Đó là cách nó vừa nghiêm khắc vừa không tuyệt vọng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Tầm Cầu (Esanāpeyyālavagga) — phẩm thứ mười ba của Tương Ưng Đạo.
Kinh Cấu Uế (Malasutta) — bài thứ một trăm sáu mươi bảy.
"Này các tỳ-kheo, có ba cấu uế.
Ba ấy là những gì?
Tham là cấu uế, sân là cấu uế, si là cấu uế —
đó là ba cấu uế.
Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ ba cấu uế ấy, con đường tám nhánh cao quý cần được tu tập. Con đường tám nhánh cao quý ấy là gì? Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh tư duy — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh ngữ — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh nghiệp — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh mạng — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh tinh tấn — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh niệm — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh định — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ. Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ ba cấu uế ấy, con đường tám nhánh cao quý này cần được tu tập."
Kinh Cấu Uế, bài thứ một trăm sáu mươi bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.