Tương Ưng Bộ · SN 12.52
Kinh Chấp Thủ
Upādānasutta — bài thứ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Chấp Thủ (Upādānasutta) đưa ra một hình ảnh mà ai đã từng nhóm lửa đều thấy ngay: một đống lửa lớn, và người ta cứ ném thêm củi.
Ví như một khối lửa lớn cháy với mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi xe củi. Rồi có người thỉnh thoảng ném vào đó cỏ khô, phân khô, củi khô. Khối lửa lớn ấy, có thức ăn, có nhiên liệu như vậy, sẽ cháy lâu dài, lâu dài.
Và cái được gọi là "nhiên liệu" ở đây là gì? Bài kinh nói ngay từ dòng đầu:
Khi một người sống quán sát vị ngọt trong những pháp chấp thủ, thì ái tăng trưởng.
Assādānupassī — "quán sát vị ngọt". Không phải tham đắm thô. Chỉ là nhìn thấy cái ngon trong đó. Và chính cái nhìn ấy là củi.
Rồi bài kinh lật lại, y hệt, với một chữ đổi:
Khi một người sống quán sát sự nguy hại trong những pháp chấp thủ, thì ái chấm dứt.
Ādīnavānupassī — "quán sát sự nguy hại". Và hình ảnh cũng lật:
Rồi có người không thỉnh thoảng ném vào đó cỏ khô, phân khô, củi khô. Khối lửa lớn ấy, khi nhiên liệu cũ đã hết và không có gì mới đưa vào, không còn thức ăn, sẽ tắt ngấm.
Chữ Pali là nibbāyeyya — tắt. Cùng gốc với nibbāna. Đó không phải cách nói tình cờ: niết-bàn, trong bài kinh này, là một đống lửa hết củi.
Và điều đáng chú ý là không ai dập lửa. Không có hành động nào gọi là "dập". Người ta chỉ thôi ném vào. Lửa tự tắt, vì nó sống bằng cái được ném vào.
Đó là toàn bộ bài kinh — và cũng là toàn bộ chỗ khó: cái cần dừng không phải ngọn lửa, mà là bàn tay.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Dukkha (Dukkhavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Chấp Thủ (Upādānasutta) — bài thứ hai.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, khi một người sống quán sát vị ngọt trong những pháp chấp thủ, thì ái tăng trưởng.
Do ái làm duyên nên có thủ;
do thủ làm duyên nên có hữu;
do hữu làm duyên nên có sinh;
do sinh làm duyên nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
Này các tỳ-kheo, ví như một khối lửa lớn cháy với mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi xe củi.
Rồi có người thỉnh thoảng ném vào đó cỏ khô, phân khô, củi khô.
Này các tỳ-kheo, khối lửa lớn ấy có thức ăn, có nhiên liệu như vậy, sẽ cháy lâu dài, lâu dài.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi một người sống quán sát vị ngọt trong những pháp chấp thủ, thì ái tăng trưởng.
Do ái làm duyên nên có thủ; do thủ làm duyên nên có hữu; do hữu làm duyên nên có sinh; do sinh làm duyên nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
Này các tỳ-kheo, khi một người sống quán sát sự nguy hại trong những pháp chấp thủ, thì ái chấm dứt.
Do ái chấm dứt nên thủ chấm dứt;
do thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt;
do hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt;
do sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.
Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.
Này các tỳ-kheo, ví như một khối lửa lớn cháy với mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi xe củi;
rồi có người không thỉnh thoảng ném vào đó cỏ khô, phân khô, củi khô.
Này các tỳ-kheo, khối lửa lớn ấy, khi nhiên liệu cũ đã hết và không có gì mới đưa vào, không còn thức ăn, sẽ tắt ngấm.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi một người sống quán sát sự nguy hại trong những pháp chấp thủ, thì ái chấm dứt,
do ái chấm dứt nên thủ chấm dứt; do thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; do hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; do sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.
Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này."
Kinh Chấp Thủ, bài thứ hai, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.