Tương Ưng Bộ · SN 47.6
Kinh Chim Ưng
Sakuṇagghisutta — bài thứ sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Chim Ưng (Sakuṇagghisutta) là một câu chuyện rất ngắn, và là một trong những ví dụ dễ nhớ nhất trong Tương Ưng Niệm Xứ.
Một con chim ưng sà xuống bắt một con chim cút. Bị tha đi, chim cút than: "Chúng ta thật bất hạnh, vì đã đi vào chỗ không phải của mình." Chim ưng hỏi: vậy chỗ của ngươi là đâu? — "Là chỗ đất cày, nơi có những cục đất." Chim ưng thả nó ra, tự tin rằng thả rồi cũng bắt lại được.
Chim cút bay về chỗ đất cày, leo lên một cục đất, rồi gọi chim ưng tới. Chim ưng lao xuống; chim cút lách xuống dưới cục đất; chim ưng đâm sầm ngực vào đất.
Bài kinh dùng hai chữ rất cụ thể: gocara — chỗ đi của mình, và visaya — lãnh thổ của kẻ khác. Với vị tỳ-kheo, chỗ của mình là bốn chỗ quán niệm; lãnh thổ kẻ khác là năm dây dục — năm thứ mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ưa nhìn, ưa nghe, ưa ngửi, ưa nếm, ưa chạm.
Nghĩa ở đây không phải "tránh đời". Nghĩa là: có một chỗ mà ở đó mình đứng được, và có một chỗ mà ở đó mình bị bắt. Chim cút không thắng bằng sức; nó thắng bằng đứng đúng chỗ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.
Phẩm Ambapālī (Ambapālivagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Niệm Xứ.
Kinh Chim Ưng (Sakuṇagghisutta) — bài thứ sáu.
"Này các tỳ-kheo, thuở xưa, một con chim ưng bỗng sà xuống và bắt một con chim cút.
Rồi này các tỳ-kheo, chim cút bị chim ưng tha đi, than khóc như vầy:
"Chúng ta thật là những kẻ bất hạnh, thật ít phước, vì đã đi vào chỗ không phải của mình, vào lãnh thổ của kẻ khác.
Nếu hôm nay chúng ta đi trong chỗ của mình, trong lãnh thổ của tổ tiên mình, thì con chim ưng này không đủ sức đánh với ta."
"Vậy chỗ của ngươi, lãnh thổ tổ tiên của ngươi, là gì, này chim cút?"
"Chính là chỗ đất cày ruộng, nơi có những cục đất."
Rồi này các tỳ-kheo, chim ưng ấy, tự tin vào sức mình, không coi chim cút ra gì, đã thả nó ra:
"Đi đi, này chim cút. Đi tới đó rồi ngươi cũng không thoát được ta đâu."
Rồi này các tỳ-kheo, chim cút đi tới chỗ đất cày ruộng, leo lên một cục đất lớn, đứng đó nói với chim ưng:
"Đến đây đi, này chim ưng. Đến đây đi, này chim ưng."
Rồi này các tỳ-kheo, chim ưng ấy, tự tin vào sức mình, không coi chim cút ra gì, xếp cả hai cánh lại, lao xuống.
Khi chim cút biết con chim ưng đã gần tới, nó lách xuống dưới cục đất ấy.
Rồi này các tỳ-kheo, chim ưng đâm sầm ngực vào ngay chỗ đó.
Đó là cách xảy ra, này các tỳ-kheo, với ai đi vào chỗ không phải của mình, vào lãnh thổ của kẻ khác.
Vậy nên, này các tỳ-kheo, chớ đi vào chỗ không phải của mình, vào lãnh thổ của kẻ khác.
Đi vào chỗ không phải của mình, vào lãnh thổ của kẻ khác, thì Ma sẽ có chỗ lọt vào, Ma sẽ có chỗ bám vào.
Và này các tỳ-kheo, chỗ không phải của mình, lãnh thổ của kẻ khác, đối với vị tỳ-kheo là gì?
Chính là năm dây dục.
Năm ấy là gì?
Các sắc do mắt nhận biết — khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đẹp lòng, gợi tham, hấp dẫn,
các âm thanh do tai nhận biết — khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đẹp lòng, gợi tham, hấp dẫn,
các mùi do mũi nhận biết — khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đẹp lòng, gợi tham, hấp dẫn,
các vị do lưỡi nhận biết — khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đẹp lòng, gợi tham, hấp dẫn,
các xúc do thân nhận biết — khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đẹp lòng, gợi tham, hấp dẫn.
Này các tỳ-kheo, đó là chỗ không phải của mình, lãnh thổ của kẻ khác, đối với vị tỳ-kheo.
Này các tỳ-kheo, hãy đi trong chỗ của mình, trong lãnh thổ của tổ tiên mình.
Đi trong chỗ của mình, trong lãnh thổ của tổ tiên mình, thì Ma sẽ không có chỗ lọt vào, Ma sẽ không có chỗ bám vào.
Và này các tỳ-kheo, chỗ của mình, lãnh thổ của tổ tiên mình, đối với vị tỳ-kheo là gì?
Chính là
bốn chỗ quán niệm.
Bốn ấy là gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Này các tỳ-kheo, đó là chỗ của mình, lãnh thổ của tổ tiên mình, đối với vị tỳ-kheo."
Kinh Chim Ưng, bài thứ sáu, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.