buppou

Tương Ưng Bộ · SN 47.31

Kinh Chưa Từng Được Nghe

Ananussutasutta — bài thứ ba mươi mốt

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Chưa Từng Được Nghe (Ananussutasutta) là bài nói về chính khoảnh khắc Đức Thế Tôn giác ngộ, kể ở thì quá khứ, ngôi thứ nhất.

Cấu trúc của bài rất đặc: mỗi chỗ quán niệm được nói ba lần, và mỗi lần kèm theo cùng một câu:

Với Ta, này các tỳ-kheo, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

Ba lần ấy ứng với ba câu: "Đây là quán thân nơi thân" — "nó phải được tu" — "nó đã được tu".

Đọc kỹ sẽ thấy bài kinh không nói Đức Thế Tôn được ai dạy bốn chỗ quán niệm. Ngài nói: trước đây chưa từng được nghe. Đây là một trong những chỗ hiếm hoi trong Kinh tạng, Đức Thế Tôn tự nói về cái Ngài tự tìm ra — không do truyền thống, không do thầy.

Và chữ cuối cùng lặp lại mỗi lần là ánh sáng (āloko): không phải "hiểu ra", mà là "sáng lên".

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.

Phẩm Chưa Từng Được Nghe (Ananussutavagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Niệm Xứ.

Kinh Chưa Từng Được Nghe (Ananussutasutta) — bài thứ ba mươi mốt.


Tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, "đây là quán thân nơi thân" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán thân nơi thân này phải được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán thân nơi thân này đã được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "đây là quán thọ nơi các thọ" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán thọ nơi các thọ này phải được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán thọ nơi các thọ này đã được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "đây là quán tâm nơi tâm" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán tâm nơi tâm này phải được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán tâm nơi tâm này đã được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "đây là quán pháp nơi các pháp" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán pháp nơi các pháp này phải được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

"Này các tỳ-kheo, "chỗ quán pháp nơi các pháp này đã được tu" — với Ta, nơi những pháp trước đây chưa từng được nghe, con mắt đã sinh khởi, trí đã sinh khởi, tuệ đã sinh khởi, minh đã sinh khởi, ánh sáng đã sinh khởi.

Kinh Chưa Từng Được Nghe, bài thứ ba mươi mốt, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →