Tương Ưng Bộ · SN 23.2
Kinh Chúng Sinh
Sattasutta — bài thứ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai hỏi chúng sinh là gì. Câu trả lời nằm gọn trong một chữ: dính.
Này Rādha, đối với sắc, có dục, có tham, có hỷ, có ái — chúng sinh bám ở đó, dính ở đó, nên gọi là chúng sinh.
Không có thực thể nào được đặt tên. Chỉ có sự bám. Chỗ nào có bám, chỗ ấy có tên gọi.
Rồi một ví dụ rất đời: trẻ con chơi đồ chơi bằng đất. Bao lâu còn chưa lìa tham đối với chúng, chúng còn quý, còn giữ, còn chấp. Khi đã lìa tham, chúng tung bằng tay bằng chân, quăng đi, đập vỡ, chơi cho tan.
Ngài bảo Rādha làm đúng như vậy với năm uẩn: tung, quăng, đập vỡ, chơi cho tan, để ái được đoạn tận. Và: ái được đoạn tận là Niết-bàn.
Hình ảnh này đáng nhớ vì nó không nói về sự từ bỏ nghiêm trang. Nó nói về một đứa trẻ chán món đồ chơi của mình.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rādha (Rādhasaṃyutta), tương ưng thứ 23.
Phẩm Ma (Paṭhamamāravagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rādha.
Kinh Chúng Sinh (Sattasutta) — bài thứ hai.
"Tại Sāvatthī.
Ngồi một bên, Tôn giả Rādha bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, người ta nói chúng sinh, chúng sinh.
Bạch Đức Thế Tôn, cho đến mức nào thì gọi là chúng sinh?
Này Rādha, đối với sắc, có dục, có tham, có hỷ, có ái — chúng sinh bám ở đó, dính ở đó, nên gọi là chúng sinh.
Đối với thọ, có dục, có tham, có hỷ, có ái — chúng sinh bám ở đó, dính ở đó, nên gọi là chúng sinh.
Đối với tưởng, có dục, có tham, có hỷ, có ái — chúng sinh bám ở đó, dính ở đó, nên gọi là chúng sinh.
Đối với hành, có dục, có tham, có hỷ, có ái — chúng sinh bám ở đó, dính ở đó, nên gọi là chúng sinh.
đối với thức, có dục, có tham, có hỷ, có ái — chúng sinh bám ở đó, dính ở đó, nên gọi là chúng sinh.
Này Rādha, ví như trẻ trai hay trẻ gái chơi những đồ chơi bằng đất.
Bao lâu chúng còn chưa lìa tham, chưa lìa dục, chưa lìa ái, chưa lìa khát, chưa lìa nhiệt não, chưa lìa ái đối với những đồ chơi bằng đất ấy, thì bấy lâu chúng còn bám vào, còn ham, còn quý, còn chấp những đồ chơi ấy.
Nhưng khi chúng đã lìa tham, lìa dục, lìa ái, lìa khát, lìa nhiệt não, lìa ái đối với những đồ chơi bằng đất ấy, thì khi ấy chúng tung chúng bằng tay bằng chân, quăng đi, đập vỡ, chơi cho tan.
Cũng vậy, này Rādha, các ông hãy tung sắc, quăng đi, đập vỡ, chơi cho tan, và thực hành để ái được đoạn tận.
Hãy tung thọ, quăng đi, đập vỡ, chơi cho tan, và thực hành để ái được đoạn tận.
Hãy tung tưởng, quăng đi, đập vỡ, chơi cho tan, và thực hành để ái được đoạn tận.
Hãy tung hành, quăng đi, đập vỡ, chơi cho tan, và thực hành để ái được đoạn tận.
Hãy tung thức, quăng đi, đập vỡ, chơi cho tan, và thực hành để ái được đoạn tận.
Vì ái được đoạn tận, này Rādha, ấy là Niết-bàn."
Bài thứ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.