buppou

Tương Ưng Bộ · SN 56.11

Kinh Chuyển Pháp Luân

Dhammacakkappavattanasutta — bài kinh về việc chuyển vận bánh xe Pháp

10 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasutta) là bài pháp đầu tiên. Đức Thế Tôn thuyết bài này tại vườn nai Isipatana, gần Bārāṇasi (Ba-la-nại), cho nhóm năm người bạn đồng tu thuở Ngài còn đi tìm đạo — những người đã bỏ Ngài khi Ngài từ bỏ lối tu ép xác. Đây là lần đầu tiên giáo pháp được nói ra, và cũng là lần đầu tiên có một người hiểu.

Bài mở bằng hai cực đoan. Một bên là đắm mình trong lạc thú giác quan — thấp hèn, tầm thường, không đưa đi đâu. Bên kia là tự hành hạ thân xác — đau khổ, cũng không đưa đi đâu. Điều đáng chú ý là Ngài nói với chính những người đang thực hành cực đoan thứ hai: Ngài không bảo họ sai vì họ khổ hạnh, mà bảo cả hai lối đều trượt mục đích. Rồi Ngài nêu con đường giữa: tám chi phần, từ chánh kiến đến chánh định.

Phần lõi là bốn sự thật. Khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt của khổ, con đường dẫn đến sự chấm dứt ấy. Mỗi sự thật được nhìn qua ba vòng: biết nó là gì, biết phải làm gì với nó, và biết việc ấy đã xong. Bốn sự thật nhân ba vòng thành mười hai cách. Đây là chỗ hay bị đọc lướt nhất trong bài kinh nổi tiếng nhất: bốn sự thật ở đây không phải bốn câu để tin, mà là bốn việc để làm — hiểu trọn vẹn cái khổ, từ bỏ nguồn gốc của nó, chứng ngộ sự chấm dứt, tu tập con đường.

Đoạn kế tiếp là lời tuyên bố: chỉ khi ba vòng ấy đã thật trong sạch, Ngài mới tự nhận mình đã giác ngộ hoàn toàn. Câu ấy đặt một tiêu chuẩn cho mọi đời sau: không có chuyện giác ngộ mà chưa soi hết bốn việc kia.

Khi bài pháp chấm dứt, Koṇḍañña hiểu. Cái hiểu của ông gói trong một câu: cái gì có sinh khởi thì cái ấy đều có chấm dứt. Rồi tiếng loan truyền chạy qua các cõi trời, mười ngàn thế giới rung động, và Đức Thế Tôn nói lên một câu ngắn — "Koṇḍañña đã hiểu rồi" — rồi đặt cho ông cái tên ấy: Aññāsikoṇḍañña, Koṇḍañña Đã Hiểu.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.

Phẩm Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Tứ Đế.

Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasutta) — bài thứ mười một.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Bārāṇasi (Ba-la-nại), trong vườn nai Isipatana.

Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi nhóm năm tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, người xuất gia không nên theo hai cực đoan này.

Hai cực đoan ấy là gì?

Một là đắm mình vào lạc thú giác quan — thấp hèn, tầm thường, của kẻ phàm tục, không xứng bậc thánh, không đưa tới ích lợi. Hai là tự hành hạ thân xác — đau khổ, không xứng bậc thánh, không đưa tới ích lợi.

Này các tỳ-kheo, không theo cả hai cực đoan ấy, Như Lai đã giác ngộ con đường giữa — con đường làm phát sinh con mắt, làm phát sinh trí biết, dẫn đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Này các tỳ-kheo, con đường giữa ấy mà Như Lai đã giác ngộ, con đường làm phát sinh con mắt, làm phát sinh trí biết, dẫn đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, là gì?

Đó là con đường tám chi phần cao quý, tức là—

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này các tỳ-kheo, đó là con đường giữa mà Như Lai đã giác ngộ, con đường làm phát sinh con mắt, làm phát sinh trí biết, dẫn đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Này các tỳ-kheo, đây là sự thật cao quý về khổ—

sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; gần gũi người mình không thương là khổ, xa lìa người mình thương là khổ, cầu mà không được là khổ — nói gọn, năm nhóm thủ uẩn là khổ.

Này các tỳ-kheo, đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ—

chính là lòng tham ái ấy, cái đưa đến tái sinh, đi cùng với hỷ và tham, thích thú chỗ này chỗ kia, tức là—

dục ái, hữu ái, vô hữu ái.

Này các tỳ-kheo, đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ—

sự chấm dứt hoàn toàn, không còn dư tàn, của chính lòng tham ái ấy; sự buông bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát khỏi nó, sự không còn bám víu vào nó.

Này các tỳ-kheo, đây là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ—

đó là con đường tám chi phần cao quý, tức là—

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Đây là sự thật cao quý về khổ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về khổ ấy cần được hiểu trọn vẹn".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về khổ ấy đã được hiểu trọn vẹn".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ ấy cần được từ bỏ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ ấy đã được từ bỏ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ ấy cần được chứng ngộ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ ấy đã được chứng ngộ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Đây là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ ấy cần được tu tập".

Này các tỳ-kheo, về những pháp trước đây chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên con mắt, khởi lên trí biết, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên ánh sáng, rằng: "Sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ ấy đã được tu tập".

Này các tỳ-kheo, bao lâu sự hiểu biết và cái thấy như thật về bốn sự thật cao quý này, theo ba vòng và mười hai cách ấy, còn chưa thật trong sạch nơi Ta, thì bấy lâu Ta chưa tự nhận rằng, trong thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên, cùng với sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, Ta đã giác ngộ sự giác ngộ hoàn toàn, không ai hơn, đúng như thật.

Này các tỳ-kheo, nhưng khi sự hiểu biết và cái thấy như thật về bốn sự thật cao quý này, theo ba vòng và mười hai cách ấy, đã thật trong sạch nơi Ta, thì bấy giờ Ta tự nhận rằng, trong thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên, cùng với sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, Ta đã giác ngộ sự giác ngộ hoàn toàn, không ai hơn, đúng như thật.

Và nơi Ta khởi lên sự hiểu biết và cái thấy này:

"Sự giải thoát của Ta không còn gì lay chuyển được; đây là lần sinh cuối cùng; nay không còn tái sinh nữa."

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Năm vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Và trong khi lời tuyên bố ấy đang được nói ra, nơi Tôn giả Koṇḍañña khởi lên cái thấy về Pháp, không còn bụi bặm, không còn vết nhơ:

"Cái gì có sinh khởi thì cái ấy đều có chấm dứt."

Khi Đức Thế Tôn đã chuyển vận bánh xe Pháp, chư thiên cõi Địa cầu loan truyền tiếng ấy:

"Tại Bārāṇasi, trong vườn nai Isipatana, Đức Thế Tôn đã chuyển vận bánh xe Pháp tối thượng, bánh xe ấy không thể bị chuyển ngược lại bởi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời."

Nghe tiếng của chư thiên cõi Địa cầu, chư thiên cõi Bốn Đại Vương loan truyền tiếng ấy:

"Tại Bārāṇasi, trong vườn nai Isipatana, Đức Thế Tôn đã chuyển vận bánh xe Pháp tối thượng, bánh xe ấy không thể bị chuyển ngược lại bởi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời."

Nghe tiếng của chư thiên cõi Bốn Đại Vương, chư thiên cõi Ba Mươi Ba loan truyền tiếng ấy:

Nghe tiếng của chư thiên cõi Ba Mươi Ba, chư thiên cõi Yāma loan truyền tiếng ấy:

Nghe tiếng của chư thiên cõi Yāma, chư thiên cõi Tusita loan truyền tiếng ấy:

Nghe tiếng của chư thiên cõi Tusita, chư thiên cõi Nimmānaratī loan truyền tiếng ấy:

Nghe tiếng của chư thiên cõi Nimmānaratī, chư thiên cõi Paranimmitavasavattī loan truyền tiếng ấy:

Nghe tiếng của chư thiên cõi Paranimmitavasavattī, chư thiên cõi Phạm Thiên loan truyền tiếng ấy:

"Tại Bārāṇasi, trong vườn nai Isipatana, Đức Thế Tôn đã chuyển vận bánh xe Pháp tối thượng, bánh xe ấy không thể bị chuyển ngược lại bởi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên hay bất cứ ai trên đời."

Như vậy, trong chính khoảnh khắc ấy, trong chính lúc ấy, trong chính giây phút ấy, tiếng ấy vang lên tới cõi Phạm Thiên.

Và mười ngàn thế giới này rung động, rúng động, chuyển mình mạnh mẽ; một ánh sáng vô lượng, rực rỡ xuất hiện trên thế gian, vượt xa uy lực của chư thiên.

Rồi Đức Thế Tôn nói lên lời cảm hứng này:

"Koṇḍañña đã hiểu rồi! Koṇḍañña đã hiểu rồi!"

Do vậy, Tôn giả Koṇḍañña có tên là Aññāsikoṇḍañña — Koṇḍañña Đã Hiểu.

Kinh Chuyển Pháp Luân, bài thứ mười một, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →