Tương Ưng Bộ · SN 22.157
Kinh Cố Chấp
Abhinivesasutta — bài thứ tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Cố Chấp (Abhinivesasutta) đổi một chữ, và chữ ấy mở ra cả một tầng khác.
Này các tỳ-kheo, khi cái gì có mặt, do chấp thủ cái gì, do khăng khăng vào cái gì, mà kiết sử, cố chấp và trói buộc khởi lên?
Ba chữ: saṁyojana (kiết sử — cái trói vào vòng sinh tử), abhinivesa (cố chấp — cái khăng khăng), vinibandha (trói buộc — cái cột).
Ba bài trước nói về cái thấy; bài này nói về cái bị trói. Nhưng câu trả lời vẫn y hệt: sắc, thọ, tưởng, các hành, thức.
Và bài này rút gọn phần phép quán — bản Pali dùng ký hiệu lược, chỉ hỏi một lần rồi lặp cho bốn uẩn còn lại. Điều đó cho thấy người kết tập biết rằng: đến đây người nghe đã thuộc khuôn, không cần nói đủ nữa.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Tà Kiến (Diṭṭhivagga) — phẩm thứ mười lăm của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Cố Chấp (Abhinivesasutta) — bài thứ tám.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, khi cái gì có mặt, do chấp thủ cái gì, do khăng khăng vào cái gì, mà kiết sử, cố chấp và trói buộc khởi lên?"
"Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc, lấy Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Ngài giảng cho chúng con ý nghĩa của lời ấy."
"Này các tỳ-kheo, khi sắc có mặt, do chấp thủ sắc, do khăng khăng vào sắc, mà kiết sử, cố chấp và trói buộc khởi lên.
Khi thọ có mặt, do chấp thủ thọ, do khăng khăng vào thọ, mà kiết sử, cố chấp và trói buộc khởi lên.
Khi tưởng có mặt, do chấp thủ tưởng, do khăng khăng vào tưởng, mà kiết sử, cố chấp và trói buộc khởi lên.
Khi các hành có mặt, do chấp thủ các hành, do khăng khăng vào các hành, mà kiết sử, cố chấp và trói buộc khởi lên.
Khi thức có mặt, do chấp thủ thức, do khăng khăng vào thức, mà kiết sử, cố chấp và trói buộc khởi lên.
Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào?
Sắc là thường hay vô thường?"
"Bạch Thế Tôn, là vô thường."
"Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?" — "Bạch Thế Tôn, là khổ."
"Vậy với cái vô thường, khổ, có tính đổi khác ấy, nếu không chấp thủ thì kiết sử, cố chấp và trói buộc có thể khởi lên không?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Nhàm chán nên ly tham. Ly tham nên được giải thoát. Được giải thoát nên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát.'
Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"
Kinh Cố Chấp, bài thứ tám, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.