buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.156

Kinh Ngã Kiến

Attānudiṭṭhisutta — bài thứ bảy

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Ngã Kiến (Attānudiṭṭhisutta) là bài thứ ba, và cái tên nói rõ nhất: cái thấy về tự ngã.

Ba bài 154–156 đi từ rộng đến hẹp: tà kiến (mọi cái thấy sai) → thân kiến (cái thấy về khối thân) → ngã kiến (cái thấy về tự ngã). Ba tầng, nhưng cùng một gốc: chấp thủ năm uẩn.

Và mỗi bài đều kết bằng cùng một lối ra: thấy vô thường, thấy khổ, thấy đổi khác, và không chấp thủ — thì cái thấy ấy không còn chỗ mọc.

Bài này cũng là bài cuối của nhóm "ba kiến". Hai bài tiếp theo đổi hẳn từ ngữ: từ cái thấy sang cái trói.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Tà Kiến (Diṭṭhivagga) — phẩm thứ mười lăm của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Ngã Kiến (Attānudiṭṭhisutta) — bài thứ bảy.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, khi cái gì có mặt, do chấp thủ cái gì, do khăng khăng vào cái gì, mà ngã kiến khởi lên?"

"Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc, lấy Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Ngài giảng cho chúng con ý nghĩa của lời ấy."

"Này các tỳ-kheo, khi sắc có mặt, do chấp thủ sắc, do khăng khăng vào sắc, mà ngã kiến khởi lên.

Khi thọ có mặt, do chấp thủ thọ, do khăng khăng vào thọ, mà ngã kiến khởi lên.

Khi tưởng có mặt, do chấp thủ tưởng, do khăng khăng vào tưởng, mà ngã kiến khởi lên.

Khi các hành có mặt, do chấp thủ các hành, do khăng khăng vào các hành, mà ngã kiến khởi lên.

Khi thức có mặt, do chấp thủ thức, do khăng khăng vào thức, mà ngã kiến khởi lên.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào?

Sắc là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường." — "Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?" — "Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Vậy với cái vô thường, khổ, có tính đổi khác ấy,

nếu không chấp thủ thì ngã kiến có thể khởi lên không?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Thọ là thường hay vô thường?

Tưởng là thường hay vô thường?

Các hành là thường hay vô thường?

Thức là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường." — "Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?" — "Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Vậy với cái vô thường, khổ, có tính đổi khác ấy,

nếu không chấp thủ thì ngã kiến có thể khởi lên không?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Nhàm chán nên ly tham. Ly tham nên được giải thoát. Được giải thoát nên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"

Kinh Ngã Kiến, bài thứ bảy, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →