Tương Ưng Bộ · SN 22.155
Kinh Thân Kiến
Sakkāyadiṭṭhisutta — bài thứ sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Thân Kiến (Sakkāyadiṭṭhisutta) đổi tên bệnh: không còn là "tà kiến" nói chung, mà là thân kiến — cái thấy rằng năm uẩn này là "tôi".
Sakkāya nghĩa là "khối thân đang có"; sakkāyadiṭṭhi là cái nhìn coi khối ấy là tự ngã. Đó là cái thấy gốc, và cũng là kiết sử đầu tiên bị phá khi chứng quả nhập lưu.
Bài này không thêm gì mới so với bài trước — cùng câu hỏi, cùng câu trả lời, cùng phép quán. Và chính sự lặp lại ấy là điều đáng chú ý: tà kiến, thân kiến, ngã kiến không phải ba bệnh khác nhau; chúng là ba tên của cùng một cái nắm.
Đó cũng là lý do bốn bài này đứng liền nhau: chúng vẽ một vòng tròn quanh một chỗ duy nhất.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Tà Kiến (Diṭṭhivagga) — phẩm thứ mười lăm của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Thân Kiến (Sakkāyadiṭṭhisutta) — bài thứ sáu.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, khi cái gì có mặt, do chấp thủ cái gì, do khăng khăng vào cái gì, mà thân kiến khởi lên?"
"Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc, lấy Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Ngài giảng cho chúng con ý nghĩa của lời ấy."
"Này các tỳ-kheo, khi sắc có mặt, do chấp thủ sắc, do khăng khăng vào sắc, mà thân kiến khởi lên.
Khi thọ có mặt, do chấp thủ thọ, do khăng khăng vào thọ, mà thân kiến khởi lên.
Khi tưởng có mặt, do chấp thủ tưởng, do khăng khăng vào tưởng, mà thân kiến khởi lên.
Khi các hành có mặt, do chấp thủ các hành, do khăng khăng vào các hành, mà thân kiến khởi lên.
Khi thức có mặt, do chấp thủ thức, do khăng khăng vào thức, mà thân kiến khởi lên.
Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào?
Sắc là thường hay vô thường?"
"Bạch Thế Tôn, là vô thường." — "Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?" — "Bạch Thế Tôn, là khổ."
"Vậy với cái vô thường, khổ, có tính đổi khác ấy,
nếu không chấp thủ thì thân kiến có thể khởi lên không?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Thọ là thường hay vô thường?
Tưởng là thường hay vô thường?
Các hành là thường hay vô thường?
Thức là thường hay vô thường?"
"Bạch Thế Tôn, là vô thường." — "Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?" — "Bạch Thế Tôn, là khổ."
"Vậy với cái vô thường, khổ, có tính đổi khác ấy,
nếu không chấp thủ thì thân kiến có thể khởi lên không?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Nhàm chán nên ly tham. Ly tham nên được giải thoát. Được giải thoát nên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát.'
Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"
Kinh Thân Kiến, bài thứ sáu, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.