Tương Ưng Bộ · SN 20.012
Kinh Con Chó Rừng (Hai)
Dutiyasiṅgālasutta — bài thứ mười hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài cuối cùng của bộ này mở đầu bằng đúng câu hỏi của bài trước — con chó rừng già tru lên lúc rạng đông — nhưng rồi đi theo một hướng hoàn toàn khác.
Này các tỳ-kheo, các ông có nghe con chó rừng già tru lên lúc rạng đông không?
Bài trước dùng con chó rừng để nói về sự buông lung. Bài này dùng nó để nói về lòng biết ơn. Con chó rừng già ấy có thể có lòng biết ơn, có thể nhớ ơn đối với con vật nào đó. Nhưng một số người đã tự nhận mình là đệ tử của Thích Ca thì lại không có lòng biết ơn, không nhớ ơn.
Đây là một trong những bài hiếm hoi của Tương Ưng Bộ lấy một con vật hoang làm chuẩn mực đạo đức cho người tu. Và cái chuẩn ấy rất khiêm tốn: không phải trí tuệ, không phải thiền định, chỉ là nhớ ơn.
Câu kết là một lời hứa có hai vế, và vế thứ hai đáng chú ý hơn: những gì đã được làm cho chúng con, dù chỉ một chút, cũng sẽ không mất đi.
Bài này cũng khép lại cả bộ, với bài kệ tóm tắt bốn dòng và một dòng kết ngắn: Tương Ưng Ví Dụ đến đây là hết.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Ví Dụ (Opammasaṃyutta), tương ưng thứ 20.
Phẩm Ví Dụ (Opammavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Ví Dụ.
Kinh Con Chó Rừng (Hai) (Dutiyasiṅgālasutta) — bài thứ mười hai.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, các ông có nghe con chó rừng già tru lên lúc rạng đông không?
Bạch Thế Tôn, có.
Này các tỳ-kheo, con chó rừng già ấy có thể có lòng biết ơn, có thể nhớ ơn đối với con vật nào đó; nhưng này các tỳ-kheo, một số người đã tự nhận mình là đệ tử của Thích Ca thì lại không có lòng biết ơn, không nhớ ơn.
Vì vậy, này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy:
Chúng con sẽ có lòng biết ơn, sẽ nhớ ơn;
và những gì đã được làm cho chúng con,
dù chỉ một chút, cũng sẽ không mất đi. Này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy."
Bài thứ mười hai.
Phẩm Ví Dụ là phẩm thứ nhất.
Tóm tắt phẩm này:
Nóc nhà, đầu ngón tay, gia đình,
bát cơm, lưỡi dao, người bắn cung;
cái đinh, vải gai, con voi,
con mèo, và hai bài về con chó rừng.
Tương Ưng Ví Dụ đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.