Tương Ưng Bộ · SN 35.31
Kinh Con Đường Thích Hợp (I)
Paṭhamasamugghātasappāyasutta — bài thứ ba mươi mốt
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Con Đường Thích Hợp (Paṭhamasamugghātasappāyasutta) là bản thứ hai của bài trước, và nó thêm một thứ mà bài trước không có: lý do.
Sau mỗi vòng bốn câu phủ định, bài này chèn vào một nhận xét:
"Này các tỳ-kheo, cái gì vị ấy tưởng tượng, cái gì vị ấy tưởng tượng trong đó, cái gì vị ấy tưởng tượng từ đó, cái gì vị ấy tưởng tượng là 'của tôi' — cái ấy trở thành khác đi."
Tato taṁ hoti aññathā. Một câu, và nó là toàn bộ lý do.
Cái được tưởng tượng thì không ở yên. Không phải vì tưởng tượng sai, mà vì cái bị tưởng tượng là thứ đang đổi. Và khi nó đổi, cái "của tôi" đi kèm nó cũng đổi — và cái đổi ấy là đau.
Rồi một câu nữa, còn khó hơn:
"Thế giới đắm chìm trong sự trở thành, ưa thích sự trở thành, chỉ hoan hỷ với sự trở thành."
Bhavasatto loko — thế giới dính vào sự trở thành. Đây là một trong những câu cô đọng nhất của Kinh tạng: nó nói rằng vấn đề không phải thế giới có gì, mà thế giới muốn thành cái gì.
Và ở cuối, phạm vi được mở rộng đến mức tối đa: không chỉ sáu cửa, mà uẩn, giới, xứ. Tất cả những gì có thể được gọi là một cái gì — tất cả đều nằm trong vòng ấy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Tất Cả (Sabbavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Con Đường Thích Hợp (I) (Paṭhamasamugghātasappāyasutta) — bài thứ ba mươi mốt.
"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các vị con đường thích hợp với sự nhổ sạch mọi sự tưởng tượng.
Hãy nghe cho kỹ.
Và này các tỳ-kheo, con đường ấy là gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không tưởng tượng mắt, không tưởng tượng trong mắt, không tưởng tượng từ mắt, không tưởng tượng 'mắt là của tôi'.
Vị ấy không tưởng tượng các sắc.
Vị ấy không tưởng tượng nhãn thức, không tưởng tượng nhãn xúc, và cảm thọ do duyên nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — vị ấy không tưởng tượng cái ấy, không tưởng tượng trong cái ấy, không tưởng tượng từ cái ấy, không tưởng tượng 'cái ấy là của tôi'.
Này các tỳ-kheo, cái gì vị ấy tưởng tượng, cái gì vị ấy tưởng tượng trong đó, cái gì vị ấy tưởng tượng từ đó, cái gì vị ấy tưởng tượng là 'của tôi' — cái ấy trở thành khác đi.
Thế giới đắm chìm trong sự trở thành, ưa thích sự trở thành, chỉ hoan hỷ với sự trở thành.
Vị ấy không tưởng tượng lưỡi, không tưởng tượng trong lưỡi, không tưởng tượng từ lưỡi, không tưởng tượng 'lưỡi là của tôi'.
Vị ấy không tưởng tượng các vị.
Vị ấy không tưởng tượng thiệt thức, không tưởng tượng thiệt xúc.
Và cảm thọ do duyên thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — vị ấy không tưởng tượng cái ấy, không tưởng tượng trong cái ấy, không tưởng tượng từ cái ấy, không tưởng tượng 'cái ấy là của tôi'.
Này các tỳ-kheo, cái gì vị ấy tưởng tượng, cái gì vị ấy tưởng tượng trong đó, cái gì vị ấy tưởng tượng từ đó, cái gì vị ấy tưởng tượng là 'của tôi' — cái ấy trở thành khác đi.
Thế giới đắm chìm trong sự trở thành, ưa thích sự trở thành, chỉ hoan hỷ với sự trở thành.
Vị ấy không tưởng tượng ý, không tưởng tượng trong ý, không tưởng tượng từ ý, không tưởng tượng 'ý là của tôi'.
Vị ấy không tưởng tượng các pháp.
Vị ấy không tưởng tượng ý thức, không tưởng tượng ý xúc.
Và cảm thọ do duyên ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — vị ấy không tưởng tượng cái ấy, không tưởng tượng trong cái ấy, không tưởng tượng từ cái ấy, không tưởng tượng 'cái ấy là của tôi'.
Này các tỳ-kheo, cái gì vị ấy tưởng tượng, cái gì vị ấy tưởng tượng trong đó, cái gì vị ấy tưởng tượng từ đó, cái gì vị ấy tưởng tượng là 'của tôi' — cái ấy trở thành khác đi.
Thế giới đắm chìm trong sự trở thành, ưa thích sự trở thành, chỉ hoan hỷ với sự trở thành.
Cho đến uẩn, giới, xứ — vị ấy cũng không tưởng tượng cái ấy, không tưởng tượng trong cái ấy, không tưởng tượng từ cái ấy, không tưởng tượng 'cái ấy là của tôi'.
Vị ấy, do không tưởng tượng như vậy, không chấp thủ bất cứ điều gì trên đời.
Do không chấp thủ nên không sợ hãi. Do không sợ hãi nên tự mình chứng niết-bàn.
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.
Này các tỳ-kheo, đấy là con đường thích hợp với sự nhổ sạch mọi sự tưởng tượng."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.