Tương Ưng Bộ · SN 20.010
Kinh Con Mèo
Biḷārasutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười là cặp đôi của bài thứ chín, nhưng đi theo một hướng khác. Vẫn là một tỳ-kheo bị nhắc, nhưng lần này vị ấy không đáp lại — vị ấy chỉ không thôi.
Thầy chớ đi loanh quanh các gia đình quá thường xuyên.
Rồi Đức Thế Tôn kể chuyện con mèo. Con mèo đứng ở bờ cống để rình một con chuột nhỏ, nghĩ rằng: khi con chuột này ra khỏi chỗ ở để đi ăn, ta sẽ bắt nó ngay chỗ ấy và ăn thịt nó. Con chuột ra, con mèo bắt lấy, nuốt vội, nuốt trửng. Con chuột cắn cả ruột nó, cắn cả màng ruột nó. Và con mèo gặp cái chết hay cái đau gần chết.
Hình ảnh này khác hẳn các hình ảnh trước. Nó không nói về cái gì to lớn, mà nói về một cái bẫy tự mình giăng ra rồi tự mình sập vào. Con mèo không bị ai tấn công. Nó chết vì cái nó đã nuốt.
Rồi Đức Thế Tôn áp vào tỳ-kheo: vị ấy đi khất thực với thân không được phòng hộ, lời nói không được phòng hộ, tâm không được phòng hộ, niệm không được an trú, các căn không được thu thúc. Vị ấy thấy một người nữ ăn mặc không chỉnh tề, và lòng tham làm dao động tâm vị ấy.
Và đây là chỗ định nghĩa đáng nhớ nhất của bài: cái chết, trong giới luật của bậc thánh, chính là việc từ bỏ học giới mà quay trở lại đời thấp kém. Cái đau gần chết chính là việc phạm một tội đã bị nhiễm ô.
Cách định nghĩa này rất mạnh, và cũng rất nhân hậu. Nó không nói người phạm tội là người đã chết. Nó nói người ấy đang ở trong tình trạng mà kinh gọi là chết — và vẫn còn một lối ra, vì tội ấy có thể được thoát ra theo cách tương ứng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Ví Dụ (Opammasaṃyutta), tương ưng thứ 20.
Phẩm Ví Dụ (Opammavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Ví Dụ.
Kinh Con Mèo (Biḷārasutta) — bài thứ mười.
"Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, một tỳ-kheo đi loanh quanh các gia đình quá thường xuyên.
Các tỳ-kheo bèn nói với vị ấy:
Thầy chớ đi loanh quanh các gia đình quá thường xuyên.
Vị tỳ-kheo ấy khi được các tỳ-kheo nói như vậy
không thôi.
Rồi nhiều tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đi đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, các tỳ-kheo bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, ở đây có một tỳ-kheo đi loanh quanh các gia đình quá thường xuyên.
Các tỳ-kheo bèn nói với vị ấy:
Thầy chớ đi loanh quanh các gia đình quá thường xuyên. Vị tỳ-kheo ấy khi được các tỳ-kheo nói như vậy không thôi.
Thuở xưa, này các tỳ-kheo, một con mèo đứng ở bờ cống, bờ hào, chỗ đất trũng, để rình một con chuột nhỏ:
Khi con chuột nhỏ này ra khỏi chỗ ở để đi ăn, ta sẽ bắt nó ngay chỗ ấy và ăn thịt nó.
Rồi con chuột nhỏ ấy, này các tỳ-kheo, ra khỏi chỗ ở để đi ăn.
Con mèo bắt lấy nó, nuốt vội rồi nuốt trửng.
Con chuột nhỏ ấy cắn cả ruột nó, cắn cả màng ruột nó.
Vì thế, nó gặp cái chết hay cái đau gần chết.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, ở đây có một tỳ-kheo buổi sáng mặc áo, mang bát và y, đi vào làng hay thị trấn để khất thực với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc.
Ở đó, vị ấy thấy một người nữ ăn mặc không chỉnh tề hoặc ăn mặc hở hang.
Khi thấy người nữ ấy, lòng tham làm dao động tâm vị ấy.
Với tâm bị tham làm dao động, vị ấy gặp cái chết hay cái đau gần chết.
Này các tỳ-kheo, cái chết ấy chính là việc từ bỏ học giới, quay trở lại đời thấp kém trong giới luật của bậc thánh.
Cái đau gần chết ấy chính là việc phạm một tội đã bị nhiễm ô nào đó.
Tội ấy có thể được thoát ra theo cách tương ứng.
Vì vậy, này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy:
Chúng con sẽ đi vào làng hay thị trấn để khất thực với thân được phòng hộ, với lời nói được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được thu thúc.
Này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy."
Bài thứ mười.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.