buppou

Tương Ưng Bộ · SN 39.5

Kinh Đã Đạt Sự An Ổn

Assāsappattasutta — bài thứ năm

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ năm đưa vào chữ assāsa — sự an ổn, cái thở ra — và nó là một trong hai bài đẹp nhất của tương ưng.

"Đã đạt được sự an ổn, đã đạt được sự an ổn", này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Assāsa — sự an ổn, sự hồi sức, cái thở ra. Chữ gốc ā + śvas: thở.

Và định nghĩa:

Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ — thì đến mức ấy được gọi là đã đạt được sự an ổn.

Năm khía cạnh, một đối tượng. Và đối tượng ấy là sáu xúc xứ — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Đó là chỗ mà thế giới chạm vào. Và cái an ổn không phải chỗ không có cái chạm — vì không có chỗ ấy.

Cái an ổn là chỗ mà cái chạm đã được hiểu đến cùng: nó từ đâu tới, nó hết thế nào, nó ngọt ở đâu, nó nguy ở đâu, và lối ra ở đâu.

Năm câu hỏi cho mỗi cái chạm. Và khi năm câu ấy đã có đáp án, thì cái chạm không còn là một cái bẫy.

Đó là một định nghĩa rất khác với cách người ta thường nói về an ổn: không phải yên tĩnh, không phải vắng vẻ, không phải không còn gì. Mà là hiểu rõ đến mức không còn gì để sợ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasaṃyutta), tương ưng thứ 39.

Phẩm Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāmaṇḍaka.

Kinh Đã Đạt Sự An Ổn (Assāsappattasutta) — bài thứ năm.


"Đã đạt được sự an ổn, đã đạt được sự an ổn, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Cho đến mức nào, này hiền giả, thì được gọi là đã đạt được sự an ổn?

Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ — thì đến mức ấy, này hiền giả, được gọi là đã đạt được sự an ổn.

Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn ấy không?

Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn ấy.

Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để chứng ngộ sự an ổn ấy?

Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để chứng ngộ sự an ổn ấy, ấy là:

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn ấy.

Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để chứng ngộ sự an ổn ấy.

Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."

Bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →