buppou

Tương Ưng Bộ · SN 39.6

Kinh Đã Đạt Sự An Ổn Tối Thượng

Paramassāsappattasutta — bài thứ sáu

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ sáu là bài đối xứng của bài năm, và nó thêm đúng một cụm từ — nhưng cụm từ ấy đổi cả nghĩa.

Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo, sau khi biết đúng như thật năm khía cạnh của sáu xúc xứ, thì được giải thoát không còn chấp thủ — thì đến mức ấy được gọi là đã đạt được sự an ổn tối thượng.

Anupādāvimutto — đã được giải thoát nhờ không chấp thủ.

Chữ upādāna đáng để dừng: nó vừa là "bám vào", vừa là "nhiên liệu". Cùng một chữ cho hai nghĩa, và hai nghĩa ấy không tách rời: cái mình bám vào là cái mình đốt.

Không chấp thủ không phải không có gì. Nó là không lấy gì làm nhiên liệu. Và một cái lửa không còn nhiên liệu thì tắt — nibbāna, cái đã được thổi tắt.

Đó là lý do hai bài này đứng cạnh nhau: bài 5 nói cái biết, bài 6 nói cái biết ấy dẫn tới đâu. Và hai bài cộng lại là định nghĩa đầy đủ nhất mà tương ưng này đưa ra về cái đích.

Và có một điều về cách dùng chữ đáng để ý: bài 5 dùng "assāsa", bài 6 dùng "paramassāsa". Không phải hai cái đích khác nhau — mà là hai mức của cùng một cái: cái thở ra, và cái thở ra trọn vẹn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasaṃyutta), tương ưng thứ 39.

Phẩm Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāmaṇḍaka.

Kinh Đã Đạt Sự An Ổn Tối Thượng (Paramassāsappattasutta) — bài thứ sáu.


"Đã đạt được sự an ổn tối thượng, đã đạt được sự an ổn tối thượng, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Cho đến mức nào, này hiền giả, thì được gọi là đã đạt được sự an ổn tối thượng?

Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo, sau khi biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ, thì được giải thoát không còn chấp thủ — thì đến mức ấy, này hiền giả, được gọi là đã đạt được sự an ổn tối thượng.

Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy không?

Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy.

Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy?

Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy, ấy là:

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy.

Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy.

Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."

Bài thứ sáu.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →