Tương Ưng Bộ · SN 38.6
Kinh Đã Đạt Sự An Ổn Tối Thượng
Paramassāsappattasutta — bài thứ sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ sáu là bài đối xứng của bài năm — và chỗ khác nhau chỉ là một cụm từ.
Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo, sau khi biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ, thì được giải thoát không còn chấp thủ — thì đến mức ấy, này hiền giả, được gọi là đã đạt được sự an ổn tối thượng.
Bài 5: biết → an ổn. Bài 6: biết → giải thoát không còn chấp thủ → an ổn tối thượng.
Một bước thêm. Và bước ấy là anupādāvimutto — đã được giải thoát nhờ không chấp thủ.
Chữ upādāna — chấp thủ, nhiên liệu. Nó vừa là "bám vào", vừa là "cái được đốt". Và vimutto — đã được giải thoát.
Không chấp thủ không phải không có gì. Nó là không lấy gì làm nhiên liệu. Cái lửa không còn gì để cháy thì tắt — và đó là Niết-bàn theo nghĩa đen của chữ: nibbāna, cái đã được thổi tắt.
Đó là lý do hai bài này đứng cạnh nhau: bài 5 nói cái biết, bài 6 nói cái biết ấy dẫn tới đâu. Và hai bài cộng lại cho định nghĩa đầy đủ nhất của tương ưng này về cái đích.
Hai bài. Một chữ thêm. Cả một bước.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.
Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.
Kinh Đã Đạt Sự An Ổn Tối Thượng (Paramassāsappattasutta) — bài thứ sáu.
"Đã đạt được sự an ổn tối thượng, đã đạt được sự an ổn tối thượng, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Cho đến mức nào, này hiền giả, thì được gọi là đã đạt được sự an ổn tối thượng?
Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo, sau khi biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ, thì được giải thoát không còn chấp thủ — thì đến mức ấy, này hiền giả, được gọi là đã đạt được sự an ổn tối thượng.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để chứng ngộ sự an ổn tối thượng ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.