buppou

Tương Ưng Bộ · SN 38.5

Kinh Đã Đạt Sự An Ổn

Assāsappattasutta — bài thứ năm

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ năm đưa vào một chữ mà tôi muốn dừng lại lâu hơn cả: assāsa.

"Đã đạt được sự an ổn, đã đạt được sự an ổn", này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Assāsa — sự an ổn, sự thở ra, sự hồi sức. Chữ gốc là ā + śvas — thở. Assāsa là cái thở ra, cái nhẹ đi sau khi đã căng.

Và định nghĩa là:

Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ — thì đến mức ấy, này hiền giả, được gọi là đã đạt được sự an ổn.

Năm khía cạnh: sinh khởi, chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly. Đó là công thức năm phần cổ điển, và nó áp vào một đối tượng cụ thể: sáu xúc xứ.

Sáu xúc xứ — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý — là chỗ mà thế giới chạm vào ta. Và cái an ổn không phải chỗ không có cái chạm. Nó là chỗ mà cái chạm đã được hiểu.

Đó là một sự phân biệt quan trọng, và nó là toàn bộ nội dung của bài này: an ổn không phải vắng mặt, an ổn là biết rõ.

Và bài thứ sáu sẽ đẩy lên một bậc: an ổn tối thượng, chỗ mà cái biết ấy dẫn tới sự giải thoát không còn chấp thủ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.

Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.

Kinh Đã Đạt Sự An Ổn (Assāsappattasutta) — bài thứ năm.


"Đã đạt được sự an ổn, đã đạt được sự an ổn, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Cho đến mức nào, này hiền giả, thì được gọi là đã đạt được sự an ổn?

Này hiền giả, khi nào một tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ — thì đến mức ấy, này hiền giả, được gọi là đã đạt được sự an ổn.

Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn ấy không?

Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn ấy.

Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để chứng ngộ sự an ổn ấy?

Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để chứng ngộ sự an ổn ấy, ấy là:

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để chứng ngộ sự an ổn ấy.

Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để chứng ngộ sự an ổn ấy.

Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."

Bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →