Tương Ưng Bộ · SN 38.4
Kinh Vì Mục Đích Gì
Kimatthiyasutta — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tư là bài đầu tiên có một câu hỏi về mục đích — và câu trả lời là một trong những câu ngắn nhất của cả bộ kinh.
"Vì mục đích gì, này hiền giả Sāriputta, người ta sống đời phạm hạnh nơi sa-môn Gotama?" Này hiền giả, vì mục đích liễu tri khổ.
Pariññatthaṁ — vì mục đích liễu tri. Pariññā — sự biết trọn vẹn, sự hiểu thấu đến cùng.
Và đó là toàn bộ câu trả lời. Không có Niết-bàn, không có giải thoát, không có an lạc. Chỉ: để hiểu khổ cho đến cùng.
Đó là một câu trả lời rất lạ, và nó đáng để đọc chậm. Vì câu hỏi là của một du sĩ ngoài giáo — người có thể đã nghe nhiều lời hứa: lên trời, được phước, được an lạc.
Và câu trả lời là: không có lời hứa nào cả. Chỉ có một việc phải hiểu.
Đó là cách tương ưng này hoạt động: Jambukhādaka hỏi bằng ngôn ngữ của một người tìm kiếm lợi ích, và Sāriputta trả lời bằng ngôn ngữ của một người đang chẩn bệnh.
Và câu hỏi tiếp theo — có con đường để liễu tri khổ ấy không — cũng được trả lời bằng con đường tám nhánh.
Con đường tám nhánh, trong tương ưng này, là câu trả lời cho mọi câu hỏi. Và đó chính là điều tương ưng này muốn nói.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.
Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.
Kinh Vì Mục Đích Gì (Kimatthiyasutta) — bài thứ bốn.
"Vì mục đích gì, này hiền giả Sāriputta, người ta sống đời phạm hạnh nơi sa-môn Gotama?
Này hiền giả, vì mục đích liễu tri khổ mà người ta sống đời phạm hạnh nơi Đức Thế Tôn.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để liễu tri khổ ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để liễu tri khổ ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để liễu tri khổ ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để liễu tri khổ ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để liễu tri khổ ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để liễu tri khổ ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ tư.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.