Tương Ưng Bộ · SN 18.22
Kinh Đã Lìa Khỏi
Apagatasutta — bài thứ hai mươi hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài cuối cùng của tương ưng đổi một chữ trong câu hỏi, và chữ ấy đổi cả bài.
Bạch Đức Thế Tôn, biết thế nào, thấy thế nào thì trong thân có thức này và trong tất cả các tướng bên ngoài, tâm ấy lìa khỏi cái tôi và của tôi, vượt qua mọi sự phân biệt, được an tịnh, khéo được giải thoát?
Bài trước hỏi làm sao để những khuynh hướng ấy không có mặt. Bài này hỏi làm sao để tâm đã lìa khỏi chúng. Câu thứ nhất nói về chỗ không còn hạt giống; câu thứ hai nói về chỗ đã sạch.
Và có một chữ mới trong câu trả lời: được giải thoát, không còn thủ trước. Không phải thấy rồi thôi, mà là thấy rồi buông — và sự buông ấy không phải một hành động thêm vào, nó là điều xảy ra khi cái thấy đã trọn.
Bài khép tương ưng bằng bài kệ tóm tắt của phẩm hai, và bằng một dòng ngắn: Hết Tương Ưng Rāhula.
Hai mươi hai bài, và gần như toàn bộ là cùng một câu hỏi. Điều đọng lại không phải một kết luận về vô thường, mà là một cách nhìn: mọi thứ được hỏi đều vừa mới sinh ra, và mỗi lần nhìn kỹ thì chỗ để dựa lại ít đi một chút.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.
Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rāhula.
Kinh Đã Lìa Khỏi (Apagatasutta) — bài thứ hai mươi hai.
"Tại Sāvatthī.
Rồi tôn giả Rāhula đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tôn giả Rāhula bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, biết thế nào, thấy thế nào thì trong thân có thức này và trong tất cả các tướng bên ngoài, tâm ấy lìa khỏi cái tôi và của tôi, vượt qua mọi sự phân biệt, được an tịnh, khéo được giải thoát?
Này Rāhula, bất cứ sắc nào — quá khứ, vị lai, hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay thù thắng; xa hay gần — sau khi thấy tất cả sắc ấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: đây không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải tự ngã của ta, vị ấy được giải thoát, không còn thủ trước.
Bất cứ thọ nào — quá khứ, vị lai, hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay thù thắng; xa hay gần — sau khi thấy tất cả thọ ấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: đây không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải tự ngã của ta, vị ấy được giải thoát, không còn thủ trước.
Bất cứ tưởng nào — quá khứ, vị lai, hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay thù thắng; xa hay gần — sau khi thấy tất cả tưởng ấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: đây không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải tự ngã của ta, vị ấy được giải thoát, không còn thủ trước.
Bất cứ hành nào — quá khứ, vị lai, hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay thù thắng; xa hay gần — sau khi thấy tất cả hành ấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: đây không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải tự ngã của ta, vị ấy được giải thoát, không còn thủ trước.
Bất cứ thức nào — quá khứ, vị lai, hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay thù thắng; xa hay gần — sau khi thấy tất cả thức ấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: đây không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải tự ngã của ta, vị ấy được giải thoát, không còn thủ trước.
Này Rāhula, biết như vậy, thấy như vậy thì trong thân có thức này và trong tất cả các tướng bên ngoài, tâm ấy lìa khỏi cái tôi và của tôi, vượt qua mọi sự phân biệt, được an tịnh, khéo được giải thoát."
Bài thứ hai mươi hai.
Phẩm Thứ Hai.
Tóm tắt phẩm này:
Mắt, sắc và thức,
xúc và thọ;
tưởng, tư, ái,
giới và uẩn — ấy là mười;
khuynh hướng ngủ ngầm và đã lìa khỏi,
phẩm ấy được gọi là như vậy.
Hết Tương Ưng Rāhula.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.