buppou

Tương Ưng Bộ · SN 12.89

Kinh Đạo Sư (8)

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Đạo Sư (8) (Dutiyasatthusuttādidasaka) — chiếc thứ bảy: sáu xứ.

"Này các tỳ-kheo, khi một người không biết sáu xứ, không thấy sáu xứ như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về sáu xứ, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư."

Sáu xứ là chiếc dễ chỉ nhất trong toàn chuỗi. Mắt ở đây. Tai ở đây. Không cần ai giải thích.

Nhưng "biết sáu xứ" không phải là biết chúng ở đâu. Nó là biết chúng làm gì: chúng là sáu cửa, và mỗi cửa mở ra một thế giới riêng — thế giới của hình, của tiếng, của mùi, của vị, của chạm, của ý.

Và điều đáng chú ý là sáu thế giới ấy không hợp lại thành một. Chúng chạy song song, mỗi cái theo nhịp của nó. Cái mà ta gọi là "một đời sống" là một câu chuyện được dựng lên sau khi sáu dòng ấy đã chạy.

Bài kinh không nói phải đóng cửa nào. Nó nói: phải tìm người biết. Vì cái gì quá quen thì không tự lộ ra.

Dutiyasatthusuttādidasaka — bài thứ tám

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.

Phẩm Antarapeyyāla (Antarapeyyāla) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Nhân Duyên.

Kinh Đạo Sư (8) (Dutiyasatthusuttādidasaka) — bài thứ tám.


"Này các tỳ-kheo, khi một người không biết sáu xứ, không thấy sáu xứ như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về sáu xứ, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư; khi không biết sự sinh khởi của sáu xứ, không thấy sự sinh khởi của sáu xứ như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về sự sinh khởi của sáu xứ, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư; khi không biết sự chấm dứt của sáu xứ, không thấy sự chấm dứt của sáu xứ như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về sự chấm dứt của sáu xứ, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư; khi không biết con đường dẫn đến sự chấm dứt của sáu xứ, không thấy con đường ấy như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về con đường ấy, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →