Tương Ưng Bộ · SN 12.90
Kinh Đạo Sư (9)
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Đạo Sư (9) (Dutiyasatthusuttādidasaka) — chiếc thứ tám: danh sắc.
"Này các tỳ-kheo, khi một người không biết danh sắc, không thấy danh sắc như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về danh sắc, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư."
Có một cái bẫy trong chữ danh sắc, và bài kinh này đứng ngay trên nó.
Nếu danh là phần gọi tên được và sắc là phần có hình, thì cái đang đọc bài này là gì? Nó vừa gọi tên được, vừa có hình. Nghĩa là nó không nằm ở một trong hai bên — nó là cái được làm ra từ cả hai.
Và cái được làm ra từ cả hai thì không có phần nào là "tôi". Chỉ có hai loại vật liệu, luôn đổi, luôn tựa vào nhau.
Đó là lý do câu "phải tìm cầu một bậc Đạo Sư" ở đây không phải một lời khuyên đạo đức. Nó là một lối thoát khỏi chỗ bế tắc: khi một người tự hỏi "tôi là gì?" và chỉ có hai loại vật liệu để trả lời, thì cần một người đã thấy hai loại ấy là đủ.
Dutiyasatthusuttādidasaka — bài thứ chín
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Antarapeyyāla (Antarapeyyāla) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Đạo Sư (9) (Dutiyasatthusuttādidasaka) — bài thứ chín.
"Này các tỳ-kheo, khi một người không biết danh sắc, không thấy danh sắc như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về danh sắc, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư; khi không biết sự sinh khởi của danh sắc, không thấy sự sinh khởi của danh sắc như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về sự sinh khởi của danh sắc, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư; khi không biết sự chấm dứt của danh sắc, không thấy sự chấm dứt của danh sắc như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về sự chấm dứt của danh sắc, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư; khi không biết con đường dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc, không thấy con đường ấy như thật, thì để có sự hiểu biết như thật về con đường ấy, người ấy phải tìm cầu một bậc Đạo Sư."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.