Tương Ưng Bộ · SN 20.002
Kinh Đầu Ngón Tay
Nakhasikhāsutta — bài thứ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này dùng lại đúng hình ảnh của bài đầu tiên trong Tương Ưng Hiện Quán: một chút bụi đất trên móng tay so với quả đất lớn. Nhưng câu kết thì khác hẳn.
Chút bụi đất mà ta đặt lên móng tay này, hay là quả đất lớn này?
Ở Tương Ưng Hiện Quán, hình ảnh ấy dùng để nói về khổ. Ở đây, nó dùng để nói về số người. Ít thay những chúng sinh được sinh ra làm người; mà nhiều hơn hẳn là những chúng sinh được sinh ra ở chỗ khác, không phải làm người.
Đây là một trong những chỗ hiếm hoi trong Tương Ưng Bộ nói thẳng về chuyện tái sinh làm người khó đến mức nào. Không có con số, không có tỉ lệ phần trăm. Chỉ có một hình ảnh: chỗ bụi trên móng tay.
Đọc bài này, người ta dễ nghĩ đến một ẩn dụ khác quen thuộc hơn — con rùa mù giữa biển lớn thò đầu lên đúng một cái lỗ. Nhưng ở đây không có con rùa, chỉ có bụi đất. Và cái bụi ấy nằm trên móng tay của chính người đang nói.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Ví Dụ (Opammasaṃyutta), tương ưng thứ 20.
Phẩm Ví Dụ (Opammavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Ví Dụ.
Kinh Đầu Ngón Tay (Nakhasikhāsutta) — bài thứ hai.
"Tại Sāvatthī.
Rồi Đức Thế Tôn lấy một chút bụi đất trên đầu ngón tay đặt lên móng tay, rồi gọi các tỳ-kheo lại mà nói:
Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào:
cái nào nhiều hơn — chút bụi đất mà ta đặt lên móng tay này, hay là quả đất lớn này?
Bạch Thế Tôn, quả đất lớn ấy nhiều hơn hẳn.
Chút bụi đất mà Đức Thế Tôn đặt lên móng tay thật chẳng đáng kể.
Không đáng để đếm, không đáng để so, không bằng một phần trăm, không bằng một phần nghìn, không bằng một phần trăm nghìn của quả đất lớn ấy.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, ít thay những chúng sinh được sinh ra làm người;
mà nhiều hơn hẳn là những chúng sinh được sinh ra ở chỗ khác, không phải làm người.
Vì vậy, này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy:
Chúng con sẽ sống không buông lung.
Này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy."
Bài thứ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.