buppou

Tương Ưng Bộ · SN 20.001

Kinh Nóc Nhà

Kūṭasutta — bài thứ một

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bộ kinh này gồm mười hai bài, và bài nào cũng dựng một hình ảnh trước rồi mới nói đến pháp. Đó là lý do nó mang tên Tương Ưng Ví Dụ.

Bài đầu tiên là hình ảnh một ngôi nhà có nóc. Mọi cây đà của ngôi nhà đều hướng về nóc, đều quy tụ về nóc, đều bị nhổ lên theo nóc. Khi nóc bị phá thì tất cả đều bị phá theo.

Mọi cây đà của một ngôi nhà có nóc đều hướng về nóc, đều quy tụ về nóc, đều bị nhổ lên theo nóc.

Rồi Đức Thế Tôn áp hình ảnh ấy vào pháp: mọi pháp bất thiện đều lấy vô minh làm gốc, đều quy tụ về vô minh, đều bị nhổ lên theo vô minh. Khi vô minh bị phá thì tất cả đều bị phá theo.

Chỗ này đáng dừng lại. Kinh không nói vô minh là pháp bất thiện lớn nhất, mà nói nó là cái gốc — cái mà mọi thứ khác mọc ra từ đó. Phá gốc thì cành lá tự rụng, không cần chặt từng cành.

Và câu kết là một lời khuyên rất ngắn, sẽ lặp lại ở gần như mọi bài trong bộ này: hãy sống không buông lung. Không phải một giáo lý mới, mà là điều kiện để làm được việc vừa nói.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Ví Dụ (Opammasaṃyutta), tương ưng thứ 20.

Phẩm Ví Dụ (Opammavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Ví Dụ.

Kinh Nóc Nhà (Kūṭasutta) — bài thứ một.


"Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại rừng Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.

Ở đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo lại và nói:

Ví như, này các tỳ-kheo, mọi cây đà của một ngôi nhà có nóc đều hướng về nóc, đều quy tụ về nóc, đều bị nhổ lên theo nóc; cũng vậy, khi nóc nhà bị phá thì tất cả đều bị phá theo.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, mọi pháp bất thiện đều lấy vô minh làm gốc, đều quy tụ về vô minh, đều bị nhổ lên theo vô minh; khi vô minh bị phá thì tất cả đều bị phá theo.

Vì vậy, này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy:

Chúng con sẽ sống không buông lung.

Này các tỳ-kheo, các ông cần học tập như vậy."

Bài thứ nhất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →