buppou

Tương Ưng Bộ · SN 46.17

Kinh Đi Đến Bờ Bên Kia

Pāraṅgamasutta — bài thứ mười bảy

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đây là phẩm của những người đang nằm xuống vì bệnh.

Bảy giác chi là con đường đưa người tu sang bờ bên kia.

Bài kinh không giải thích vì sao, chỉ nói rằng đúng là như vậy.

Bài này tên là Kinh Đi Đến Bờ Bên Kia. Đây là bài thứ mười bảy trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Người Bệnh.

Đây là một trong những bài có thể đọc lại nhiều lần mà vẫn còn chỗ để dừng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.

Phẩm Người Bệnh (Gilānavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Giác Chi.

Kinh Đi Đến Bờ Bên Kia (Pāraṅgamasutta) — bài thứ mười bảy.


"Này các tỳ-kheo, bảy giác chi này được tu tập, được thực hành nhiều thì đưa từ bờ bên này sang bờ bên kia.

Bảy ấy là gì?

niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi —

đó là bảy giác chi, này các tỳ-kheo; được tu tập, được thực hành nhiều, chúng đưa từ bờ bên này sang bờ bên kia.

Ít thay những người trong loài người

là những người đi đến bờ bên kia;

còn phần chúng sinh khác này

thì chỉ chạy dọc theo bờ bên này.

Nhưng những ai đi theo pháp

trong pháp đã được khéo thuyết giảng,

những người ấy sẽ vượt qua bờ bên kia,

vượt qua cõi chết, nơi thật khó vượt.

Từ bỏ pháp đen,

người trí hãy tu tập pháp trắng;

từ chỗ có thể ở đến chỗ không thể ở,

đến nơi viễn ly, nơi xa cách.

Nơi ấy hãy cầu sự hoan hỷ,

buông bỏ các dục, không còn gì sở hữu;

người trí hãy tự làm cho mình trong sạch

khỏi những cấu uế của tâm.

Những ai có tâm được khéo tu tập

trong các chi phần của sự giác ngộ;

những ai không còn chấp thủ,

hoan hỷ trong sự buông bỏ mọi nắm giữ;

những vị đã tận lậu hoặc, đầy ánh sáng,

những vị ấy đã hoàn toàn tịch tịnh trong đời."

Bài thứ mười bảy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →