Tương Ưng Bộ · SN 35.157
Kinh Diệt Tận Hỷ Thứ Nhất Về Ngoại Xứ
Bāhiranandikkhayasutta — bài thứ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai giữ nguyên công thức và đổi nội xứ thành ngoại xứ.
Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thấy các sắc là vô thường — như vậy là chánh kiến của vị ấy.
Rồi cùng bốn câu: nhàm chán, hỷ diệt, ái diệt, tâm khéo giải thoát.
Nhưng có một khác biệt nhỏ mà đáng ghi: ở bài 156, mỗi cửa được đi trọn bốn câu. Ở bài 157, chỉ có sắc được đi trọn — còn tiếng, mùi, vị, vật chạm thì gộp vào một dòng "khi thấy đúng như vậy, vị ấy nhàm chán".
Đó là một sự rút gọn không đều, và nó cho thấy bài này được chép ra từ bài trước bằng cách thay chữ rồi cắt bớt.
Nhưng câu kết thì vẫn đầy đủ, và nó vẫn là câu quan trọng nhất: "do hỷ và ái được diệt tận, tâm được gọi là khéo được giải thoát".
Đọc hai bài cạnh nhau, có một điều hiện ra: phẩm này không quan tâm tới việc phân biệt nội và ngoại. Nó chỉ áp cùng một công thức lên hai bên, và công thức ấy là chỗ đứng của cả phẩm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Diệt Tận Hỷ (Nandikkhayavagga) — phẩm thứ mười sáu của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Diệt Tận Hỷ Thứ Nhất Về Ngoại Xứ (Bāhiranandikkhayasutta) — bài thứ hai.
"Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thấy các sắc là vô thường — như vậy là chánh kiến của vị ấy.
Khi thấy đúng như vậy, vị ấy nhàm chán.
Do sự diệt tận của hỷ mà ái được diệt tận;
do ái được diệt tận mà hỷ được diệt tận.
Do hỷ và ái được diệt tận, tâm được gọi là khéo được giải thoát.
Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thấy các tiếng là vô thường — như vậy là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy đúng như vậy, vị ấy nhàm chán.
Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thấy các mùi là vô thường — như vậy là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy đúng như vậy, vị ấy nhàm chán.
Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thấy các vị là vô thường — như vậy là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy đúng như vậy, vị ấy nhàm chán.
Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thấy các vật chạm là vô thường — như vậy là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy đúng như vậy, vị ấy nhàm chán.
Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo thấy các pháp là vô thường — như vậy là chánh kiến của vị ấy.
Khi thấy đúng như vậy, vị ấy nhàm chán.
Do sự diệt tận của hỷ mà ái được diệt tận;
do ái được diệt tận mà hỷ được diệt tận.
Do hỷ và ái được diệt tận, tâm được gọi là khéo được giải thoát."
Bài thứ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.