Tương Ưng Bộ · SN 28.009
Kinh Diệt Thọ Tưởng
Nirodhasamāpattisutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ chín là diệt thọ tưởng định, và đây là chỗ bộ kinh quay lại hình thức dài.
Ở đây tôi vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú diệt thọ tưởng định.
Diệt thọ tưởng định không phải một tầng thiền trong cùng danh sách với tám tầng trước, theo cách các bản luận giải phân loại. Nó là trạng thái mà thọ và tưởng tạm thời chấm dứt. Và chính vì thế, kinh quay lại nói đủ: câu hỏi, câu trả lời, đoạn đối với tôi không có như vầy, đoạn về cái Ta, rồi lặp lại.
Sự quay lại ấy có lý do. Với tám tầng trước, vẫn còn một cái gì đó để nói ta đang chứng. Với tầng này, nếu còn ai đó để nói ta đang chứng diệt thọ tưởng định, thì người ấy chưa chứng nó.
Đó là lý do đoạn về cái Ta ở đây không còn là một lời nhắc, mà là một điều kiện. Và cũng là lý do bộ kinh đặt bài này ngay trước bài cuối — bài duy nhất không nói về thiền định.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.
Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.
Kinh Diệt Thọ Tưởng (Nirodhasamāpattisutta) — bài thứ chín.
"Tại Sāvatthī.
Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.
Này hiền giả, ở đây tôi vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú diệt thọ tưởng định.
Này hiền giả, đối với tôi không có như vầy:
Ta đang chứng diệt thọ tưởng định hay Ta đã chứng diệt thọ tưởng định hay Ta đã ra khỏi diệt thọ tưởng định.
Vì rằng, này hiền giả, nơi Tôn giả Sāriputta, những khuynh hướng ngủ ngầm của cái Ta và của cái của Ta, cùng với sự kiêu mạn, đã được khéo nhổ tận gốc từ lâu.
Vì thế, nơi Tôn giả Sāriputta không có như vầy:
Ta đang chứng diệt thọ tưởng định hay Ta đã chứng diệt thọ tưởng định hay Ta đã ra khỏi diệt thọ tưởng định."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.