buppou

Tương Ưng Bộ · SN 28.010

Kinh Nữ Du Sĩ Sucimukhī

Sūcimukhīsutta — bài thứ mười

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài cuối cùng của bộ này không giống chín bài trước một chút nào. Không có thiền định, không có Tôn giả Ānanda, không có câu kết về cái Ta. Chỉ có một cuộc đối thoại bên vệ đường.

Thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng xuống phải không?

Tôn giả Sāriputta đang ăn vật khất thực, nương vào một bức tường. Nữ du sĩ Sucimukhī đến hỏi bốn câu liên tiếp: ngài ăn mặt hướng xuống, mặt hướng lên, mặt hướng về phương, mặt hướng về phương phụ phải không. Bốn lần, ngài đều đáp không.

Rồi bà hỏi: vậy thì ngài ăn như thế nào. Và câu trả lời mở ra một tầng nghĩa khác hoàn toàn — bốn hướng ấy không phải hướng của thân, mà là cách nói về bốn loại tà mạng.

Xem đất đai là hướng xuống. Xem sao là hướng lên. Đi làm sứ giả là hướng về phương. Xem tướng thân là hướng về phương phụ. Đó là bốn cách kiếm sống mà một sa-môn không được làm, và mỗi cách được gắn với một hướng như một cách nói khinh miệt.

Tôn giả Sāriputta kết: tôi không nuôi sống bằng bốn nghề ấy; tôi tìm vật khất thực một cách đúng pháp, và sau khi tìm được một cách đúng pháp, tôi ăn.

Bà Sucimukhī nghe xong thì đi khắp Rājagaha loan báo rằng các sa-môn dòng Thích Ca thọ dùng thức ăn đúng pháp, không có lỗi, và kêu gọi mọi người dâng vật khất thực cho họ. Một kết thúc rất nhẹ, sau một bộ kinh toàn nói về những tầng định sâu nhất.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.

Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.

Kinh Nữ Du Sĩ Sucimukhī (Sūcimukhīsutta) — bài thứ mười.


"Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở Rājagaha, tại rừng Veḷuvana, chỗ nuôi dưỡng sóc.

Rồi Tôn giả Sāriputta buổi sáng mặc áo, mang bát và y, đi vào Rājagaha để khất thực.

Sau khi đi khất thực từng nhà một trong Rājagaha, Tôn giả thọ dùng vật khất thực ấy nương vào một bức tường nào đó.

Rồi nữ du sĩ Sucimukhī đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; đi đến rồi, nói với Tôn giả Sāriputta rằng:

Thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng xuống phải không?

Này chị, tôi không ăn mặt hướng xuống.

Vậy thì, thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng lên phải không?

Này chị, tôi không ăn mặt hướng lên.

Vậy thì, thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng về phương phải không?

Này chị, tôi không ăn mặt hướng về phương.

Vậy thì, thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng về phương phụ phải không?

Này chị, tôi không ăn mặt hướng về phương phụ.

Khi được hỏi thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng xuống phải không, ngài đáp này chị, tôi không ăn mặt hướng xuống.

Khi được hỏi vậy thì, thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng lên phải không, ngài đáp này chị, tôi không ăn mặt hướng lên.

Khi được hỏi vậy thì, thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng về phương phải không, ngài đáp này chị, tôi không ăn mặt hướng về phương.

Khi được hỏi vậy thì, thưa sa-môn, ngài ăn mặt hướng về phương phụ phải không, ngài đáp này chị, tôi không ăn mặt hướng về phương phụ.

Vậy thì, thưa sa-môn, ngài ăn như thế nào?

Này chị, những sa-môn hay bà-la-môn nào nuôi sống bằng nghề nghiệp tà mạng, bằng nghề xem đất đai, bằng nghề thấp hèn — những vị ấy được gọi là sa-môn, bà-la-môn ăn mặt hướng xuống.

Này chị, những sa-môn hay bà-la-môn nào nuôi sống bằng nghề nghiệp tà mạng, bằng nghề xem sao, bằng nghề thấp hèn — những vị ấy được gọi là sa-môn, bà-la-môn ăn mặt hướng lên.

Này chị, những sa-môn hay bà-la-môn nào nuôi sống bằng nghề nghiệp tà mạng, bằng nghề đi làm sứ giả, bằng nghề thấp hèn — những vị ấy được gọi là sa-môn, bà-la-môn ăn mặt hướng về phương.

Này chị, những sa-môn hay bà-la-môn nào nuôi sống bằng nghề nghiệp tà mạng, bằng nghề xem tướng thân, bằng nghề thấp hèn — những vị ấy được gọi là sa-môn, bà-la-môn ăn mặt hướng về phương phụ.

Còn tôi, này chị, không nuôi sống bằng nghề xem đất đai, không nuôi sống bằng nghề xem sao, không nuôi sống bằng nghề đi làm sứ giả, không nuôi sống bằng nghề xem tướng thân — tất cả đều là tà mạng.

Tôi tìm vật khất thực một cách đúng pháp;

sau khi tìm vật khất thực một cách đúng pháp, tôi ăn.

Rồi nữ du sĩ Sucimukhī đi khắp Rājagaha, từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và loan báo rằng:

Các sa-môn dòng Thích Ca thọ dùng thức ăn đúng pháp;

các sa-môn dòng Thích Ca thọ dùng thức ăn không có lỗi.

Hãy dâng vật khất thực cho các sa-môn dòng Thích Ca."

Bài thứ mười.

Phẩm Sāriputta là phẩm thứ nhất.

Tóm tắt phẩm này:

Sinh do ly dục, không tầm,

hỷ, xả, và bài thứ tư;

không vô biên xứ, và thức vô biên,

vô sở hữu, và phi tưởng;

diệt thọ tưởng là bài thứ chín,

bài thứ mười là nữ Sucimukhī.

Tương Ưng Sāriputta đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →