Tương Ưng Bộ · SN 35.1
Kinh Vô Thường Nội Phần
Ajjhattāniccasutta — bài thứ một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Vô Thường Nội Phần (Ajjhattāniccasutta) là bài mở đầu của Tương Ưng Sáu Xứ — và cũng là bài mở đầu của cả một bộ kinh lớn nhất trong Tương Ưng Bộ, với 248 bài.
Bài chỉ nói một việc: sáu cửa — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý — là vô thường. Rồi từ vô thường suy ra khổ, từ khổ suy ra vô ngã, từ vô ngã suy ra cách nhìn: đây không phải của tôi.
Ba bước suy ấy nối với nhau chặt đến mức kinh dùng một công thức cố định cho cả 248 bài:
cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Điều đáng chú ý là kinh không bắt đầu từ lý thuyết. Nó bắt đầu từ chỗ ai cũng có: mắt tôi, tai tôi. Và nó hỏi một câu rất khó trả lời — cái đang thấy kia, nó có đứng yên không?
Nếu mắt đứng yên, thì nó phải thấy mãi một thứ. Nếu tai đứng yên, nó phải nghe mãi một tiếng. Nhưng không: cả ngày chúng đổi thay, và chính vì đổi thay nên chúng dùng được. Một cái tai cố định thì không nghe được gì cả.
Chỗ này dễ bị đọc thành một lời chê. Không phải vậy. Kinh không nói sáu cửa là xấu; kinh nói chúng không phải của ai. Và một khi cái thấy không còn bị nhận là của tôi, cái thấy vẫn tiếp tục — chỉ là không còn ai phải bảo vệ nó.
Bài cuối nói kết quả, bằng đúng bốn câu mà mọi bài trong tương ưng này sẽ lặp lại: nhàm chán, ly tham, giải thoát, và biết mình đã giải thoát.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Thường Nội Phần (Ajjhattāniccasutta) — bài thứ một.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo.
Bạch Thế Tôn', các tỳ-kheo đáp lại.
Đức Thế Tôn nói:
Mắt, này các tỳ-kheo, là vô thường.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ;
cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Tai là vô thường.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Mũi là vô thường.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Lưỡi là vô thường.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ;
cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Thân là vô thường.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Ý là vô thường.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ;
cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bài thứ nhất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.