Tương Ưng Bộ · SN 35.2
Kinh Khổ Nội Phần
Ajjhattadukkhasutta — bài thứ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Khổ Nội Phần (Ajjhattadukkhasutta) lấy đúng sáu cửa của bài trước, nhưng đổi chỗ bắt đầu: không đi từ vô thường, mà đi thẳng từ khổ.
Cách lập luận ngắn hơn một bước:
cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã; cái gì vô ngã thì không phải của tôi.
Bước "vô thường → khổ" được bỏ qua, vì nó đã được nói ở bài trước. Đó là cách người biên tập làm việc: mỗi bài chỉ mang một mắt xích, và cả phẩm ghép lại thành một chuỗi.
Đọc riêng, bài này có vẻ nghèo — chỉ có một câu suy luận. Nhưng chính cái nghèo ấy là chỗ đáng chú ý: kinh không cần chứng minh mắt là khổ. Nó chỉ cần chỉ ra rằng một cái gì không đứng yên thì không thể là chỗ tựa.
Và "khổ" ở đây không phải một cảm giác đang có. Nó là tính chất của cái bị điều kiện: cái gì sinh ra thì cái ấy không giữ được.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Khổ Nội Phần (Ajjhattadukkhasutta) — bài thứ hai.
"Mắt, này các tỳ-kheo, là khổ.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Tai là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Mũi là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Lưỡi là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Thân là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Ý là khổ.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bài thứ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.