Tương Ưng Bộ · SN 28.008
Kinh Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
Nevasaññānāsaññāyatanasutta — bài thứ tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tám là phi tưởng phi phi tưởng xứ, tầng cao nhất của định vô sắc, và cũng là tầng khó mô tả nhất.
Ở đây tôi vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, chứng và an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Kinh không cố mô tả tầng này. Nó chỉ nêu tên, và cái tên ấy tự nó là một lời thú nhận: không phải có tưởng, cũng không phải không có tưởng. Bất kỳ cách nói nào cũng sai một nửa.
Điều đáng chú ý là ở tầng này, bản Pali bỏ hẳn đoạn đối với tôi không có như vầy dài, và chỉ giữ lại một dòng ngắn ở cuối. Có lẽ vì người biên tập thấy không cần nhắc lại nữa — sau bảy bài, người nghe đã thuộc câu ấy.
Bài này chỉ có năm khoá, ngắn nhất trong bộ cùng với ba bài trước. Nhưng nó đứng ở đỉnh của cả một hệ thống, và cái ngắn ấy không phải vì thiếu nội dung, mà vì đã đến chỗ không còn gì để nói thêm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.
Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.
Kinh Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Nevasaññānāsaññāyatanasutta) — bài thứ tám.
"Tại Sāvatthī.
Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.
Này hiền giả, ở đây tôi vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, chứng và an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ.
đã ra khỏi thiền định ấy — này hiền giả, đối với tôi không có như vầy: Ta đang chứng hay Ta đã chứng hay Ta đã ra khỏi."
Bài thứ tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.