Tương Ưng Bộ · SN 28.007
Kinh Vô Sở Hữu Xứ
Ākiñcaññāyatanasutta — bài thứ bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ bảy là vô sở hữu xứ, và ở đây có một thay đổi nhỏ trong phần mở đầu.
Ở đây tôi vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, với ý niệm không có gì cả, chứng và an trú vô sở hữu xứ.
Trong bản Pali, hai bài trước mở đầu bằng Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến, còn từ bài này trở đi thì mở bằng Rồi Tôn giả Sāriputta. Đó là một chi tiết nhỏ, nhưng nó cho thấy người tụng đọc đã bắt đầu rút gọn phần khung.
Ý niệm không có gì cả là một bước ngoặt. Ba tầng trước đều có một đối tượng để nói là vô biên — không gian, rồi thức. Tầng này không còn đối tượng nào cả. Chỉ còn sự vắng mặt.
Và cũng từ đây, cái ta càng khó bám hơn, vì không còn gì để nó so mình với. Câu kết vì thế càng đúng chỗ hơn, dù vẫn y nguyên từng chữ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.
Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.
Kinh Vô Sở Hữu Xứ (Ākiñcaññāyatanasutta) — bài thứ bảy.
"Tại Sāvatthī.
Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.
Này hiền giả, ở đây tôi vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, với ý niệm không có gì cả, chứng và an trú vô sở hữu xứ.
đã ra khỏi thiền định ấy — này hiền giả, đối với tôi không có như vầy: Ta đang chứng hay Ta đã chứng hay Ta đã ra khỏi."
Bài thứ bảy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.