buppou

Tương Ưng Bộ · SN 28.006

Kinh Thức Vô Biên Xứ

Viññāṇañcāyatanasutta — bài thứ sáu

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ sáu đi thêm một bước: vượt qua không vô biên xứ, với ý niệm thức là vô biên.

Ở đây tôi vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, với ý niệm thức là vô biên, chứng và an trú thức vô biên xứ.

Đây là chỗ dễ gây bối rối nhất trong bốn tầng vô sắc, và kinh không giúp gì nhiều — nó chỉ nêu tên. Nhưng có một điều có thể thấy từ chính cách nói: tầng trước lấy không gian làm đối tượng, tầng này lấy cái biết làm đối tượng.

Nói cách khác, cái được mở rộng đến vô biên không còn là một cái gì ở ngoài, mà là chính cái đang biết. Và đó là lý do tầng này khó: người ta không thể dùng cái biết để quan sát cái biết theo cách thông thường.

Bài này chỉ có năm khoá, và câu kết dồn lại thành một dòng. Nhưng cái dòng ấy vẫn nói đủ điều cần nói: không có ta đang chứng, không có ta đã chứng, không có ta đã ra khỏi.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.

Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.

Kinh Thức Vô Biên Xứ (Viññāṇañcāyatanasutta) — bài thứ sáu.


"Tại Sāvatthī.

Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.

Này hiền giả, ở đây tôi vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, với ý niệm thức là vô biên, chứng và an trú thức vô biên xứ.

đã ra khỏi thiền định ấy — này hiền giả, đối với tôi không có như vầy: Ta đang chứng hay Ta đã chứng hay Ta đã ra khỏi."

Bài thứ sáu.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →