buppou

Tương Ưng Bộ · SN 28.005

Kinh Không Vô Biên Xứ

Ākāsānañcāyatanasutta — bài thứ năm

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ năm mở sang nhóm định vô sắc, và hình thức cũng đổi theo. Không còn phần mô tả dài, không còn đoạn đối với tôi không có như vầy tách thành hai lần. Tất cả dồn vào một câu.

Ở đây tôi vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do sự chấm dứt các tưởng đối ngại, do sự không tác ý đến các tưởng sai biệt, với ý niệm không gian là vô biên, chứng và an trú không vô biên xứ.

Ba thứ bị vượt qua ở đây rất đáng để ý: sắc tưởng, tưởng đối ngại, tưởng sai biệt. Đó không phải ba cách nói cùng một thứ. Sắc tưởng là cái nhận ra hình sắc. Tưởng đối ngại là cái phản ứng với chướng ngại. Tưởng sai biệt là cái phân biệt cái này với cái kia.

Vượt qua cả ba thì không gian hiện ra như vô biên — không phải vì không gian đổi, mà vì cái đo nó đã lắng.

Bài này ngắn đến mức khó tin nếu so với bốn bài trước. Nhưng nó không thiếu gì: vẫn có khung cảnh, vẫn có câu hỏi của Tôn giả Ānanda, vẫn có câu trả lời, và vẫn có câu kết về cái Ta.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.

Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.

Kinh Không Vô Biên Xứ (Ākāsānañcāyatanasutta) — bài thứ năm.


"Tại Sāvatthī.

Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.

Này hiền giả, ở đây tôi vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do sự chấm dứt các tưởng đối ngại, do sự không tác ý đến các tưởng sai biệt, với ý niệm không gian là vô biên, chứng và an trú không vô biên xứ.

đã ra khỏi thiền định ấy — này hiền giả, đối với tôi không có như vầy: Ta đang chứng hay Ta đã chứng hay Ta đã ra khỏi."

Bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →