buppou

Tương Ưng Bộ · SN 28.004

Kinh Tứ Thiền

Catutthajhānasutta — bài thứ bốn

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ tư là bài cuối trong nhóm bốn thiền sắc giới, và cũng là bài cuối có phần mô tả dài.

Do sự từ bỏ lạc, do sự từ bỏ khổ, do sự chấm dứt của hỷ và ưu có từ trước, chứng và an trú tứ thiền, không khổ, không lạc, có niệm thanh tịnh nhờ xả.

Tứ thiền là chỗ cả lạc và khổ đều đã lắng, cả hỷ và ưu đều đã chấm dứt. Cái còn lại chỉ là niệm và xả — và niệm ấy được gọi là thanh tịnh, vì không còn gì để nó bám vào.

Đọc bốn bài liền nhau, người ta thấy một đường đi rất rõ: từ có tầm có tứ, đến không tầm chỉ còn tứ, đến không tầm không tứ, đến không còn cả lạc. Mỗi bước bỏ đi một thứ, và không bước nào thêm vào.

Và ở cả bốn bước, câu kết không đổi. Đó là điều làm nên sự khác biệt giữa bộ kinh này và một bản mô tả thiền định thuần túy kỹ thuật.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.

Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.

Kinh Tứ Thiền (Catutthajhānasutta) — bài thứ bốn.


"Tại Sāvatthī.

Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.

Đã thấy rồi, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta rằng:

Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật thanh tịnh; sắc mặt trong sáng, tươi nhuận.

Này hiền giả, ở đây tôi do sự từ bỏ lạc, do sự từ bỏ khổ, do sự chấm dứt của hỷ và ưu có từ trước, chứng và an trú tứ thiền, không khổ, không lạc, có niệm thanh tịnh nhờ xả.

Này hiền giả, đối với tôi không có như vầy:

Ta đang chứng tứ thiền hay Ta đã chứng tứ thiền hay Ta đã ra khỏi tứ thiền.

Vì rằng, này hiền giả, nơi Tôn giả Sāriputta, những khuynh hướng ngủ ngầm của cái Ta và của cái của Ta, cùng với sự kiêu mạn, đã được khéo nhổ tận gốc từ lâu.

Vì thế, nơi Tôn giả Sāriputta không có như vầy:

Ta đang chứng tứ thiền hay Ta đã chứng tứ thiền hay Ta đã ra khỏi tứ thiền."

Bài thứ tư.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →