Tương Ưng Bộ · SN 28.003
Kinh Tam Thiền
Tatiyajhānasutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ ba nói về tam thiền, và có một chi tiết nhỏ mà các bài khác không có.
Do sự ly tham đối với hỷ, an trú xả, có niệm, có tỉnh giác, và thân cảm nhận được lạc.
Trong bản Pali, phần mô tả tam thiền dài hơn phần mô tả sơ thiền và nhị thiền, vì nó phải giải thích một thành ngữ. Các bậc thánh gọi trạng thái ấy là an trú xả, có niệm, sống an lạc. Kinh không giải thích thêm thành ngữ ấy, chỉ dẫn lại.
Điều đáng chú ý là chữ thân cảm nhận được lạc. Ở tam thiền, hỷ đã lắng, nhưng lạc vẫn còn — và lạc ấy được cảm nhận nơi thân, không phải nơi tâm. Đây là một phân biệt kỹ thuật quan trọng trong các bản luận giải, và kinh chỉ nói một câu rồi đi tiếp.
Rồi câu kết vẫn y nguyên: không có ta đang chứng, không có ta đã chứng, không có ta đã ra khỏi.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.
Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.
Kinh Tam Thiền (Tatiyajhānasutta) — bài thứ ba.
"Tại Sāvatthī.
Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.
Đã thấy rồi, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta rằng:
Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật thanh tịnh; sắc mặt trong sáng, tươi nhuận.
Này hiền giả, ở đây tôi do sự ly tham đối với hỷ, an trú xả, có niệm, có tỉnh giác, và thân cảm nhận được lạc — điều mà các bậc thánh gọi là an trú xả, có niệm, sống an lạc — chứng và an trú tam thiền.
Này hiền giả, đối với tôi không có như vầy:
Ta đang chứng tam thiền hay Ta đã chứng tam thiền hay Ta đã ra khỏi tam thiền.
Vì rằng, này hiền giả, nơi Tôn giả Sāriputta, những khuynh hướng ngủ ngầm của cái Ta và của cái của Ta, cùng với sự kiêu mạn, đã được khéo nhổ tận gốc từ lâu.
Vì thế, nơi Tôn giả Sāriputta không có như vầy:
Ta đang chứng tam thiền hay Ta đã chứng tam thiền hay Ta đã ra khỏi tam thiền."
Bài thứ ba.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.