Tương Ưng Bộ · SN 28.002
Kinh Nhị Thiền
Dutiyajhānasutta — bài thứ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai rút gọn phần mở đầu xuống còn một dòng: Sāvatthī. Từ đây, chín bài tiếp theo chỉ còn là công thức — và chính cái công thức ấy mới là điều đáng đọc.
Sắc mặt trong sáng, tươi nhuận. Hôm nay Tôn giả Sāriputta an trú trong thiền định nào vậy?
Câu hỏi của Tôn giả Ānanda lần nào cũng giống nhau, và câu trả lời chỉ đổi phần đầu: tầm và tứ lắng yên, có hỷ và lạc do thiền định sinh. Rồi đến đoạn đối với tôi không có như vầy — cũng giống nhau từng chữ.
Sự lặp lại này có một hiệu quả mà người đọc hiện đại dễ bỏ qua. Khi cùng một câu được nghe mười lần với mười nội dung khác nhau, người nghe bắt đầu chú ý đến cái không đổi chứ không phải cái đổi. Và cái không đổi chính là điều kinh muốn nói.
Đó cũng là lý do bài này không cần một lời bình. Nó tự nói bằng cách tự lặp.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.
Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.
Kinh Nhị Thiền (Dutiyajhānasutta) — bài thứ hai.
"Tại Sāvatthī.
Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.
Đã thấy rồi, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta rằng:
Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật thanh tịnh; sắc mặt trong sáng, tươi nhuận.
Này hiền giả, ở đây tôi do sự lắng yên của tầm và tứ, đạt được sự yên tĩnh bên trong, sự nhất tâm của tâm, chứng và an trú nhị thiền, không tầm, không tứ, có hỷ và lạc do thiền định sinh.
Này hiền giả, đối với tôi không có như vầy:
Ta đang chứng nhị thiền hay Ta đã chứng nhị thiền hay Ta đã ra khỏi nhị thiền.
Vì rằng, này hiền giả, nơi Tôn giả Sāriputta, những khuynh hướng ngủ ngầm của cái Ta và của cái của Ta, cùng với sự kiêu mạn, đã được khéo nhổ tận gốc từ lâu.
Vì thế, nơi Tôn giả Sāriputta không có như vầy:
Ta đang chứng nhị thiền hay Ta đã chứng nhị thiền hay Ta đã ra khỏi nhị thiền."
Bài thứ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.