Tương Ưng Bộ · SN 28.001
Kinh Sơ Thiền
Paṭhamajhānasutta — bài thứ một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bộ kinh này có mười bài, và chín bài đầu là lời kể của chính Tôn giả Sāriputta về những gì ngài đã chứng. Đó là điều hiếm — phần lớn Tương Ưng Bộ là Đức Thế Tôn nói, còn ở đây là một vị đệ tử nói về mình.
Bài đầu mở bằng một khung cảnh rất đời. Tôn giả đi khất thực buổi sáng, ăn xong, đi vào rừng Andha để an trú ban ngày, ngồi dưới một gốc cây. Chiều ra khỏi thiền tịnh, ngài đi về Jetavana.
Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật thanh tịnh; sắc mặt trong sáng, tươi nhuận.
Tôn giả Ānanda thấy bạn mình từ đằng xa và nhận ra ngay. Câu hỏi của ngài rất cụ thể: hôm nay Tôn giả Sāriputta an trú trong thiền định nào.
Câu trả lời mới là phần đáng chú ý. Tôn giả Sāriputta nói ngài chứng sơ thiền — nhưng rồi nói thêm: đối với tôi không có như vầy: ta đang chứng sơ thiền, hay ta đã chứng sơ thiền, hay ta đã ra khỏi sơ thiền.
Và lý do được đưa ra ngay sau đó: nơi Tôn giả Sāriputta, những khuynh hướng ngủ ngầm của cái Ta và của cái của Ta, cùng với sự kiêu mạn, đã được khéo nhổ tận gốc từ lâu.
Đây là toàn bộ ý của bộ kinh gói trong một bài. Ngài vẫn chứng thiền, vẫn ra khỏi thiền, nhưng không có ai ở đó để tự nhãn ta đang chứng. Cái thiền ấy vẫn đủ, chỉ thiếu người kể công.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāriputta (Sāriputtasaṃyutta), tương ưng thứ 28.
Phẩm Sāriputta (Sāriputtavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāriputta.
Kinh Sơ Thiền (Paṭhamajhānasutta) — bài thứ một.
"Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthī, tại rừng Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.
Rồi Tôn giả Sāriputta buổi sáng mặc áo, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.
Sau khi đi khất thực trong Sāvatthī, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực xong, Tôn giả đi đến rừng Andha để an trú ban ngày.
Sau khi vào rừng Andha, Tôn giả ngồi an trú ban ngày dưới một gốc cây nào đó.
Rồi Tôn giả Sāriputta buổi chiều ra khỏi thiền tịnh, đi đến rừng Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.
Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ đằng xa đang đi đến.
Đã thấy rồi, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta rằng:
Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật thanh tịnh; sắc mặt trong sáng, tươi nhuận.
Hôm nay Tôn giả Sāriputta an trú trong thiền định nào vậy?
Này hiền giả, ở đây tôi ly khỏi các dục, ly khỏi các pháp bất thiện, chứng và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh.
Này hiền giả, đối với tôi không có như vầy:
Ta đang chứng sơ thiền hay Ta đã chứng sơ thiền hay Ta đã ra khỏi sơ thiền.
Vì rằng, này hiền giả, nơi Tôn giả Sāriputta, những khuynh hướng ngủ ngầm của cái Ta và của cái của Ta, cùng với sự kiêu mạn, đã được khéo nhổ tận gốc từ lâu.
Vì thế, nơi Tôn giả Sāriputta không có như vầy:
Ta đang chứng sơ thiền hay Ta đã chứng sơ thiền hay Ta đã ra khỏi sơ thiền."
Bài thứ nhất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.