Tương Ưng Bộ · SN 12.23
Kinh Điều Kiện Cần
Upanisasutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Điều Kiện Cần (Upanisasutta) là bài đẹp nhất của Tương Ưng Nhân Duyên, và nó làm một việc mà không bài nào khác làm: nối hai chuỗi thành một dòng nước.
Nửa đầu quen thuộc — mười hai mắt xích, từ vô minh đến khổ. Nhưng đến chỗ ấy, thay vì dừng, bài đi tiếp:
Khổ là điều kiện cần của niềm tin. Niềm tin là điều kiện cần của hoan hỷ. Hoan hỷ là điều kiện cần của hỷ. Hỷ là điều kiện cần của khinh an. Khinh an là điều kiện cần của lạc. Lạc là điều kiện cần của định. Định là điều kiện cần của tri kiến như thật. Tri kiến như thật là điều kiện cần của nhàm chán. Nhàm chán là điều kiện cần của ly tham. Ly tham là điều kiện cần của giải thoát. Giải thoát là điều kiện cần của tri kiến về sự tận diệt.
Đó là một trong những câu lớn nhất của đạo Phật, và nó thường bị đọc lướt: khổ là điều kiện của niềm tin. Không phải trở ngại của niềm tin. Điều kiện của nó.
Rồi Đức Thế Tôn đưa ra hình ảnh:
Ví như trên đỉnh núi, khi trời mưa to, nước chảy theo chỗ trũng, làm đầy các khe, hốc và nhánh núi. Các khe đầy thì làm đầy ao nhỏ. Ao nhỏ đầy thì làm đầy ao lớn. Ao lớn đầy thì làm đầy sông nhỏ. Sông nhỏ đầy thì làm đầy sông lớn. Sông lớn đầy thì làm đầy biển cả.
Nước không nhảy. Nó chỉ chảy từ chỗ đầy sang chỗ trũng hơn. Và đó là toàn bộ hình ảnh của con đường: không có bước nào bị bỏ qua, và cũng không có bước nào tự mình nhảy tới.
Chữ upanisā — dịch là "điều kiện cần" — nghĩa đen là "cái ngồi bên cạnh". Không phải nguyên nhân sinh ra. Mà là cái phải có mặt trước, ở ngay bên cạnh, thì cái kia mới có thể có.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Mười Lực (Dasabalavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Điều Kiện Cần (Upanisasutta) — bài thứ ba.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng sự tận diệt các lậu hoặc là cho người biết và thấy, không phải cho người không biết và không thấy.
Này các tỳ-kheo, biết gì và thấy gì mà các lậu hoặc được tận diệt?
'Sắc là như vậy, sự sinh khởi của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy.
Thọ là như vậy, sự sinh khởi của thọ là như vậy, sự chấm dứt của thọ là như vậy.
Tưởng là như vậy, sự sinh khởi của tưởng là như vậy, sự chấm dứt của tưởng là như vậy.
Các hành là như vậy, sự sinh khởi của các hành là như vậy, sự chấm dứt của các hành là như vậy.
Thức là như vậy, sự sinh khởi của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.'
Này các tỳ-kheo, biết như vậy và thấy như vậy thì các lậu hoặc được tận diệt.
Này các tỳ-kheo, tri kiến về sự tận diệt ấy, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của tri kiến về sự tận diệt là gì?
Phải nói rằng: 'Giải thoát.'
Này các tỳ-kheo, giải thoát, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của giải thoát là gì?
Phải nói rằng: 'Ly tham.'
Này các tỳ-kheo, ly tham, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của ly tham là gì?
Phải nói rằng: 'Nhàm chán.'
Này các tỳ-kheo, nhàm chán, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của nhàm chán là gì?
Phải nói rằng: 'Tri kiến như thật.'
Này các tỳ-kheo, tri kiến như thật, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của tri kiến như thật là gì?
Phải nói rằng: 'Định.'
Này các tỳ-kheo, định, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của định là gì?
Phải nói rằng: 'Lạc.'
Này các tỳ-kheo, lạc, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của lạc là gì?
Phải nói rằng: 'Khinh an.'
Này các tỳ-kheo, khinh an, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của khinh an là gì?
Phải nói rằng: 'Hỷ.'
Này các tỳ-kheo, hỷ, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của hỷ là gì?
Phải nói rằng: 'Hoan hỷ.'
Này các tỳ-kheo, hoan hỷ, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của hoan hỷ là gì?
Phải nói rằng: 'Niềm tin.'
Này các tỳ-kheo, niềm tin, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của niềm tin là gì?
Phải nói rằng: 'Khổ.'
Này các tỳ-kheo, khổ, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của khổ là gì?
Phải nói rằng: 'Sinh.'
Này các tỳ-kheo, sinh, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của sinh là gì?
Phải nói rằng: 'Hữu.'
Này các tỳ-kheo, hữu, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của hữu là gì?
Phải nói rằng: 'Thủ.'
Này các tỳ-kheo, thủ, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của thủ là gì?
Phải nói rằng: 'Ái.'
Này các tỳ-kheo, ái, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của ái là gì?
Phải nói rằng: 'Thọ.' Này các tỳ-kheo, thọ, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần. Điều kiện cần của thọ là gì? Phải nói rằng: 'Xúc.'
Này các tỳ-kheo, xúc, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần. Điều kiện cần của xúc là gì? Phải nói rằng: 'Sáu xứ.'
Này các tỳ-kheo, sáu xứ, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần. Điều kiện cần của sáu xứ là gì? Phải nói rằng: 'Danh sắc.'
Này các tỳ-kheo, danh sắc, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần. Điều kiện cần của danh sắc là gì? Phải nói rằng: 'Thức.'
Này các tỳ-kheo, thức, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần. Điều kiện cần của thức là gì? Phải nói rằng: 'Hành.'
Phải nói rằng: 'Hành.'
Này các tỳ-kheo, hành, Ta nói nó cũng có điều kiện cần, không phải không có điều kiện cần.
Này các tỳ-kheo, điều kiện cần của hành là gì?
Phải nói rằng: 'Vô minh.'
Như vậy, này các tỳ-kheo, vô minh là điều kiện cần của hành.
Hành là điều kiện cần của thức.
Thức là điều kiện cần của danh sắc.
Danh sắc là điều kiện cần của sáu xứ.
Sáu xứ là điều kiện cần của xúc.
Xúc là điều kiện cần của thọ.
Thọ là điều kiện cần của ái.
Ái là điều kiện cần của thủ.
Thủ là điều kiện cần của hữu.
Hữu là điều kiện cần của sinh.
Sinh là điều kiện cần của khổ.
Khổ là điều kiện cần của niềm tin.
Niềm tin là điều kiện cần của hoan hỷ.
Hoan hỷ là điều kiện cần của hỷ.
Hỷ là điều kiện cần của khinh an.
Khinh an là điều kiện cần của lạc.
Lạc là điều kiện cần của định.
Định là điều kiện cần của tri kiến như thật.
Tri kiến như thật là điều kiện cần của nhàm chán.
Nhàm chán là điều kiện cần của ly tham.
Ly tham là điều kiện cần của giải thoát.
Giải thoát là điều kiện cần của tri kiến về sự tận diệt.
Này các tỳ-kheo, ví như trên đỉnh núi, khi trời mưa to, nước chảy theo chỗ trũng, làm đầy các khe, hốc và nhánh núi. Các khe, hốc và nhánh núi đầy thì làm đầy các ao nhỏ. Các ao nhỏ đầy thì làm đầy các ao lớn. Các ao lớn đầy thì làm đầy các sông nhỏ. Các sông nhỏ đầy thì làm đầy các sông lớn. Các sông lớn đầy thì làm đầy biển cả.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vô minh là điều kiện cần của hành, hành là điều kiện cần của thức, thức là điều kiện cần của danh sắc, danh sắc là điều kiện cần của sáu xứ, sáu xứ là điều kiện cần của xúc, xúc là điều kiện cần của thọ, thọ là điều kiện cần của ái, ái là điều kiện cần của thủ, thủ là điều kiện cần của hữu, hữu là điều kiện cần của sinh, sinh là điều kiện cần của khổ, khổ là điều kiện cần của niềm tin, niềm tin là điều kiện cần của hoan hỷ, hoan hỷ là điều kiện cần của hỷ, hỷ là điều kiện cần của khinh an, khinh an là điều kiện cần của lạc, lạc là điều kiện cần của định, định là điều kiện cần của tri kiến như thật, tri kiến như thật là điều kiện cần của nhàm chán, nhàm chán là điều kiện cần của ly tham, ly tham là điều kiện cần của giải thoát, giải thoát là điều kiện cần của tri kiến về sự tận diệt."
Kinh Điều Kiện Cần, bài thứ ba, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.