buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.5

Kinh Định

Samādhisutta — bài thứ năm

6 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Định (Samādhisutta) nói một câu mà nhiều người đọc ngược: hãy tu tập định, vì người có định mới thấy đúng như thật.

Chiều thường của suy nghĩ là: hiểu trước, rồi mới tĩnh. Kinh này đặt ngược lại — tĩnh trước, rồi hiểu. Lý do nằm ở chỗ "thấy đúng như thật" không phải là suy luận thêm một bước, mà là ngừng thêm bớt. Tâm đang chạy thì cái nó thấy luôn là cái nó vừa dựng lên.

Này các tỳ-kheo, hãy tu tập định. Người có định, này các tỳ-kheo, thấy đúng như thật.

Và thấy cái gì? Sự sinh khởi và sự chấm dứt của năm uẩn. Phần còn lại của bài là chuỗi mười hai mắt xích, nhưng chạy theo hai chiều, và mắt xích đầu tiên không phải vô minh — nó là hoan hỷ: vị ấy hoan hỷ, tán thán, bám giữ sắc; do đó sinh hỷ; hỷ là thủ; thủ là hữu; hữu là sinh; sinh là già chết và cả khối khổ.

Điều ấy khiến bài này rất thực dụng: muốn cắt chuỗi thì cắt ở chỗ gần nhất, chỗ mà tay mình còn chạm tới được — đừng hoan hỷ, đừng tán thán, đừng bám giữ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Nakulapitā (Nakulapituvagga) — phẩm thứ một của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Định (Samādhisutta) — bài thứ năm.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo." — "Bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp. Đức Thế Tôn nói:

"Này các tỳ-kheo, hãy tu tập định.

Người có định, này các tỳ-kheo, thấy đúng như thật.

Thấy đúng như thật cái gì?

Sự sinh khởi và sự chấm dứt của sắc, của thọ, của tưởng, của các hành, của thức.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là sự sinh khởi của sắc, của thọ, của tưởng, của các hành, của thức?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán và bám giữ.

Vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ cái gì?

Vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ sắc.

Khi vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ sắc, thì sinh khởi hỷ.

Hỷ đối với sắc là thủ.

Do thủ làm duyên, có hữu;

do hữu làm duyên, có sinh;

do sinh làm duyên, sinh khởi già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não.

Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.

Vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ thọ; do đó sinh khởi hỷ; hỷ đối với thọ là thủ; do thủ làm duyên, có hữu; do hữu làm duyên, có sinh; do sinh làm duyên, sinh khởi già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não.

Vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ tưởng; do đó sinh khởi hỷ; hỷ đối với tưởng là thủ; do thủ làm duyên, có hữu; do hữu làm duyên, có sinh; do sinh làm duyên, sinh khởi già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não.

Vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ các hành; do đó sinh khởi hỷ; hỷ đối với các hành là thủ; do thủ làm duyên, có hữu; do hữu làm duyên, có sinh; do sinh làm duyên, sinh khởi già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não.

Vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ thức.

Khi vị ấy hoan hỷ, tán thán và bám giữ thức, thì sinh khởi hỷ.

Hỷ đối với thức là thủ.

Do thủ làm duyên, có hữu;

do hữu làm duyên, có sinh;

do sinh làm duyên, sinh khởi già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não.

Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.

Đó là sự sinh khởi của sắc;

đó là sự sinh khởi của thọ;

đó là sự sinh khởi của tưởng;

đó là sự sinh khởi của các hành;

đó là sự sinh khởi của thức.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là sự chấm dứt của sắc, của thọ,

của tưởng,

của các hành,

của thức?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ.

Vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ cái gì?

Vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ sắc.

Khi vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ sắc, thì hỷ đối với sắc chấm dứt.

Khi hỷ chấm dứt, thủ chấm dứt;

khi thủ chấm dứt, hữu chấm dứt; khi hữu chấm dứt, sinh chấm dứt; khi sinh chấm dứt, già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.

Vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ thọ.

Khi vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ thọ, thì hỷ đối với thọ chấm dứt.

Khi hỷ chấm dứt, thủ chấm dứt;

khi thủ chấm dứt, hữu chấm dứt; khi hữu chấm dứt, sinh chấm dứt; khi sinh chấm dứt, già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.

Vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ tưởng; khi ấy hỷ đối với tưởng chấm dứt, thủ chấm dứt, hữu chấm dứt, sinh chấm dứt, già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ các hành.

Khi vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ các hành, thì hỷ đối với các hành chấm dứt.

Khi hỷ chấm dứt, thủ chấm dứt;

khi thủ chấm dứt, hữu chấm dứt; khi hữu chấm dứt, sinh chấm dứt; khi sinh chấm dứt, già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.

Vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ thức.

Khi vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, không bám giữ thức, thì hỷ đối với thức chấm dứt.

Khi hỷ chấm dứt, thủ chấm dứt; khi thủ chấm dứt, hữu chấm dứt; khi hữu chấm dứt, sinh chấm dứt; khi sinh chấm dứt, già, chết, lo, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.

Đó là sự chấm dứt của sắc, của thọ, của tưởng, của các hành, của thức."

Kinh Định, bài thứ năm, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →